Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

Cảnh quan hùng vĩ đặc sắc của Côn Sơn Kiếp Bạc

Là Di tích quốc gia đặc biệt, trong những năm qua, khu di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc (thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) đã được quan tâm trùng tu, tôn tạo, phát huy giá trị của di tích.

Hiện nay tỉnh Hải Dương đang triển khai nhiều hạng mục tôn tạo tại khu di tích, trong đó có việc khôi phục lầu thờ Đức Phật Quán Thế Âm Bồ Tát, tạo thêm điểm nhấn tâm linh cho khu di tích, góp phần phát huy giá trị khu di tích lịch sử Côn Sơn-Kiếp Bạc gắn với phát triển du lịch.

Nhiều phát hiện khảo cổ mới

Mới đây, trong quá trình thi công phần móng công trình khôi phục lầu thờ Đức Phật Quán Thế Âm Bồ Tát tại vị trí phía sau nhà thờ tổ chùa Côn Sơn, Ban Quản lý di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc đã phát hiện nhiều hiện vật quý. Theo tiến sỹ Lê Duy Mạnh, Phó trưởng Ban Quản lý di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc, đơn vị đang tiến hành thống kê, xử lý tư liệu hiện vật.


Sơ bộ, lần này, đơn vị đã xác định được trên 700 hiện vật quý gồm trên 500 mảnh ngói mũi hài tráng men và 3 viên ngói mũi hài tráng men còn nguyên vẹn cùng 110 viên ngói đất nung cùng nhiều hiện vật là đồ trang trí đất nung, đồ gốm, lon sành. Có thể khẳng định, những hiện vật này thêm một lần nữa củng cố cho nhận định tại đây đã từng có một công trình văn hóa tráng lệ thờ Phật, nằm trên trục đường thần đạo của di tích Côn Sơn.

Trước đó, cuộc khai quật khảo cổ học vào năm 1998 do Bảo tàng tỉnh Hải Dương và Ban Quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc thực hiện ở vị trí cạnh Giếng Ngọc đã phát hiện nhiều viên ngói tráng men hoa nâu (niên đại thế kỷ XIII, XIV), vì kèo bằng gỗ, nền móng kè đá… Các nhà khoa học cho rằng có thể đây là dấu tích kiến trúc của một công trình thờ Phật hoành tráng.

Các cuộc khai quật khảo cổ học tại chùa Côn Sơn vào năm 1979, 1994 và năm 2000 cũng cho thấy dưới lòng đất Côn Sơn chứa đựng những dấu vết của nhiều công trình kiến trúc cũ. Mặc dù diện tích khai quật không nhiều so với quy mô của di tích nhưng 3 lần khai quật đều thu được kết quả quan trọng; trong đó phải kể đến việc phát hiện dấu vết kiến trúc ở thế kỷ XIV với hiện vật ngói tráng men có hoa văn. Những kết quả khảo cổ này đã bổ sung tư liệu lịch sử về di tích Côn Sơn, khẳng định tại đây vào thời Trần đã có một quần thể gồm những công trình kiến trúc, cầu, tháp tráng lệ. Đây là cơ sở khoa học vững chắc cho việc trùng tu, tôn tạo, từng bước trả lại những gì vốn có cho di tích.

Quan tâm công tác tu bổ, tôn tạo

Hiện nay, công trình khôi phục lầu thờ Đức Phật Quán Thế Âm Bồ Tát đang được Ban Quản lý di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc triển khai tích cực. Đây là dự án đã được tỉnh Hải Dương phê duyệt chủ trương đầu tư từ năm 2016.


Theo nội dung dự án, lầu thờ Đức Phật Quán Thế Âm Bồ Tát được xây dựng cạnh Giếng Ngọc, cao 15m so với mặt bằng chùa Côn Sơn. Lầu theo lối phương đình 2 tầng 8 mái, đao tàu chéo góc, lợp ngói tráng men. Lầu cao 9,5m. có kết cấu móng bê tông cốt thép, hệ thống cột và vì mái bằng gỗ, nền lát đá xanh. Trong lầu thờ tượng Đức Phật Quán Thế Âm Bồ Tát dự kiến cao 1,75 m tọa thiền trên đài sen. Từ lầu thờ nhìn xuống bao quát được toàn cảnh chùa Côn Sơn, phía trước là vườn hoa, tạo thành chữ Phật.

Tiến sỹ Nguyễn Khắc Minh, nguyên Trưởng Ban Quản lý di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc khẳng định, công trình lầu thờ Đức Phật Quán Thế Âm Bồ Tát Chùa Côn Sơn sau khi được khôi phục sẽ là một điểm nhấn kiến trúc linh thiêng, kết nối các công trình kiến trúc khác của chùa với cảnh quan hùng vĩ của núi rừng Côn Sơn, Thanh Hư Động, Am Bạch Vân…

Khu di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc là quần thể gồm các công trình kiến trúc đồ sộ, không chỉ được biết đến là chốn tổ của dòng thiền phái Trúc Lâm mà còn gắn liền với tên tuổi, thân thế và sự nghiệp của hai vị Anh hùng dân tộc là Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi cùng nhiều danh nhân văn hóa của dân tộc như Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán.

Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, danh thắng, nhiều năm qua, công tác tu bổ, tôn tạo khu di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc đã được Trung ương và địa phương quan tâm. Tháng 12/2012, tỉnh Hải Dương phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình: tu bổ, tôn tạo đền Kiếp Bạc gồm 12 hạng mục với kinh phí 77 tỷ đồng. Năm 2014, tỉnh phê duyệt Dự án tu bổ, tôn tạo chùa Côn Sơn và tháng 3/2015, dự án đã được khởi công. 

Theo kế hoạch, dự án tu bổ, tôn tạo chùa Côn Sơn được chia thành hai giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 là hoàn thành phục dựng tòa Cửu Phẩm Liên Hoa, nhà Tổ Đường, nhà Hậu Đường cùng các công trình phụ trợ đến nay đã hoàn thành. Giai đoạn 2 của dự án đang được triển khai gồm các hạng mục tu bổ, tôn tạo Giếng Ngọc, Lầu thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, đường lên tháp Tổ, tả hữu tiền hành lang, gác chuông, xây dựng khu tăng ni chùa Côn Sơn.


Theo ông Lê Duy Mạnh, Phó trưởng Ban Quản lý di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc, công tác trùng tu, tôn tạo các công trình kiến trúc tại Côn Sơn-Kiếp Bạc từ trước đến nay luôn căn cứ vào những kết quả khảo cổ học, được thực hiện cẩn trọng với sự giám sát chặt chẽ của các nhà khoa học đảm bảo các hạng mục sau khi tu bổ, tôn tạo và xây dựng đều đạt yêu cầu về chất lượng kỹ thuật, mỹ thuật, hòa nhập cảnh quan chung của khu di tích.

Hoàn thiện không gian kiến trúc, cảnh quan khu di tích

Về thăm Côn Sơn-Kiếp Bạc thời gian gần đây, nhiều du khách tỏ ra hài lòng khi chứng kiến cảnh quan của khu di tích đã có nhiều đổi thay tích cực. Toàn bộ hàng quán dọc hai bên đường vào chùa Côn Sơn nay được chuyển ra khu vực gần bãi xe, thay vào đó là khuôn viên trồng nhiều loại hoa, cây xanh. Nhiều cây vải già cỗi cũng được cắt tỉa. Những dãy ghế đá được kê thêm dưới tán thông làm nơi nghỉ chân cho du khách khi về Côn Sơn dâng hương, vãn cảnh. Các công trình phụ trợ như nhà bếp, nhà xe, nhà kho sau nhiều năm xuống cấp nay đã được xây mới. Tại khu di tích Kiếp Bạc, hệ thống tiêu thoát nước được cải tạo, mặt hồ được thả hoa sen, hoa súng; cây xanh được trồng ở khu vực phía sau đền Kiếp Bạc. Bãi đỗ xe, các lối vào đền Kiếp Bạc được mở rộng, nâng cấp.

Những nỗ lực của tỉnh Hải Dương đã và đang góp phần hoàn thiện không gian kiến trúc, cảnh quan của khu di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc, làm tăng giá trị lịch sử, thẩm mỹ, công năng sử dụng, phục vụ phát triển du lịch, công tác nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử cũng như đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân. Những việc làm này góp phần bảo tồn bền vững các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của khu di tích, thu hút các nguồn lực đầu tư theo Quy hoạch tổng thể bảo tồn, phát huy khu di tích lịch sử Côn Sơn-Kiếp Bạc gắn với phát triển du lịch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, từng bước đưa Côn Sơn-Kiếp Bạc trở thành khu du lịch quốc gia./.

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

Quảng Ninh đón 200.000 lượt khách du lịch trong đợt nghỉ Tết Dương Lịch

 Mặc dù thời tiết rét đậm nhưng trong 4 ngày của đợt nghỉ Tết Dương lịch, Quảng Ninh đã đón 200.000 lượt khách, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2018


Du khách quốc tế đến Quảng Ninh chủ yếu từ thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản... Trong đó, khách tour Hà Nội Hạ Long thăm Vịnh Hạ Long đạt gần 55.000 lượt. Riêng ngày đầu tiên của năm 2019, khách tham quan Vịnh Hạ Long đạt trên 10.000 lượt, trong đó hơn 1.300 khách nội địa và hơn 9.000 khách quốc tế. Công suất buồng các khách sạn 4-5 sao đạt khoảng 95 - 98%.

Năm nay dịp nghỉ tết Dương lịch kéo dài, cùng với đó tỉnh Quảng Ninh tổ chức nhiều sự kiện lớn như: Khai trương Cảng Hàng không quốc tế Vân Đồn, Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long, thông xe tuyến cao tốc Hạ Long – Vân Đồn nên lượng khách đến Quảng Ninh tăng mạnh, đặc biệt là khách lưu trú.


Ông Phạm Ngọc Thủy, Giám đốc Sở du lịch Quảng Ninh cho biết, để phục vụ tốt nhu cầu của du khách trong dịp Tết Dương lịch, các đơn vị lữ hành, khách sạn lớn cũng tổ chức các hoạt động chào mừng năm mới, đón giao thừa tạo cho du khách du lịch Hạ Long Cát Bà nhiều trải nghiệm.

"Với sự cố gắng, vào cuộc quyết liệt của lãnh đạo tỉnh, các sở ngành đặc biệt là các doanh nghiệp lữ hành, du lịch kể cả người dân trong làm du lịch để có môi trường thật sự tốt vừa để phát triển du lịch vừa để nâng cao môi trường du lịch, đời sống người dân và phát triển kinh tế - xã hội", ông Thủy nói./.

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

Bánh lá mơ - Món quà vặt giản dị của miền Tây

Cách làm đã đặc biệt, nguyên liệu cũng đặc biệt không kém nên bánh sau khi hoàn thành có mùi thơm vô cùng đặc trưng và hấp dẫn.

Miền Tây từ xưa đến nay vốn rất nổi tiếng về các loại bánh ăn chơi, bánh quà vặt cho trẻ nhỏ. Đặc biệt, nếu bạn là con người sinh ra và lớn lên ở vùng đất này thì có lẽ đều không thể không biết đến món bánh lá được xem là một trong những đặc sản nơi đây. Bánh lá rau mơ hay còn gọi là bánh lá mít, bánh nắn lá, bánh lá... là món bánh ăn vặt mà hầu như đều ghi dấu trong ký ức mỗi người, thậm chí nhiều năm về sau khi đã trưởng thành thì du khách tour du lịch miền Tây 4 ngày vẫn còn thích nhâm nhi món bánh này không chỉ để thỏa cơn thèm mà như để ôn lại chút kỷ niệm ngày xưa.


Gọi là bánh lá rau mơ vì loại bánh này có sử dụng nguyên liệu là lá rau mơ. Tuy nhiên, ở miền Tây có đến 2 loại lá rau mơ. Loại thứ nhất là lá rau mơ rừng có thân lá thuôn dài, mỏng, màu xanh nhạt. Loại thứ hai là lá mơ lông, loại này có nhiều ở miền Bắc, thân lá tròn, dày, một mặt lá màu xanh, mặt sau màu tim tím, trên thân lá có đầy lông tơ.

Và để làm bánh lá rau mơ thì người miền Tây sử dụng loại lá rau mơ rừng là phổ biến. Tuy nhiên, thời gian gần đây, do lá rau mơ rừng ngày càng ít đi nên đôi khi người ta cũng dùng lá rau mơ lông làm bánh. Và hai loại lá này tuy khác nhau về hình dáng bên ngoài nhưng có mùi hương tương tự nhau nên bánh làm ra cũng không khác nhau mấy.

Bánh lá rau mơ làm không khó. Nguyên liệu chính làm bánh là lá rau mơ, bột gạo, nước cốt dừa. Lá rau mơ hái về thì rửa sạch rồi cắt nhỏ xay nhuyễn lấy nước. Sau đó cho nước lá rau mơ, một ít nước cốt dừa, đường, muối và bột gạo để tạo ra hỗn hợp bột sền sệt. Còn nếu muốn bánh ngon hơn nữa thì người ta tự xay gạo chứ không dùng loại bột gạo bán sẵn ngoài tiệm. Gạo ngâm nhiều giờ liền cho mềm rồi cho vào cối xay chung với lá rau mơ đã cắt nhuyễn cũng cho ra hỗn hợp bột tương tự.

Bánh lá rau mơ không chỉ sử dụng lá làm nguyên liệu mà còn sử dụng lá làm khuôn bánh. Loại lá được sử dụng phổ biến nhất chính là lá dừa nước. Bởi lý do đơn giản là vì dừa nước là loại cây rất dễ tìm hơn miền Tây, thân lá cứng dày có thể tái sử dụng nhiều lần. Và ngoài lá dừa nước thì đôi khi người dân còn dùng lá mít, lá chuối để làm khuôn bánh. Do đó, có nơi gọi là bánh lá rau mơ nhưng có nơi gọi là bánh lá mít.


Tùy vào loại lá dùng làm khuôn bánh mà cách quấy bột, cho bánh lên khuôn cũng khác nhau một chút. Lá dừa nước do có độ cứng, có lòng lá sâu nên phần bột sẽ loãng hơn và dùng vá múc bột đổ lên mặt lá là được. Còn đối với lá mít hay lá chuối do có thân lá mỏng, bằng phẳng nên bột cần đặc hơn và dùng tay trực tiếp nắn bột lên bánh. Tuy nhiên, nếu muốn bánh có độ dày dặn, người làm bánh có thời gian tỉ mỉ thì nắn bánh lên lá dừa nước vẫn được. Đó là lý do vì sao có nơi gọi đây lá món bánh nắn lá là vì vậy.

Nếu dùng lá mít hoặc lá chuối làm khuôn thì sau khi nắn bột lên lá, người ta sẽ cuốn lá lại theo cuộn tròn trước khi cho vào nồi hấp chín. Còn đối với lá dừa nước thì cứ để nguyên lá thế xếp chồng chéo lên nhau rồi cho vào nồi là được. Đó là lý do vì sao lá dừa nước thông dụng hơn khi dùng làm khuôn bánh lá rau mơ, vừa không mất thời gian nắn bánh, không cần cuộn lá lại và sau khi bánh chín thì việc gỡ bánh ra khỏi lá cũng nhanh hơn.

Do bánh lá rau mơ rất mỏng nên việc hấp bánh cực nhanh chín. Khoảng 5 phút là đã có thể cho ra lò một mẻ bánh chín thơm nồng. Điểm đặc biệt của loại bánh này là khi ở dạng bột thì bánh có màu xanh của lá mơ nhưng sau khi hấp chín thì bánh đổi màu xanh đen sậm. Thứ 2, do lấy lá làm khuôn nên bánh làm ra cũng có hình dạng của lá với đầy đủ gân lá in hằn lên. Và tất nhiên, tùy bạn lấy lá nào làm khuôn thì bánh sẽ có hình dạng của loại lá đó.


Ngoài ra, do được làm từ lá rau mơ nên bánh chắc chắn có mùi thơm rất đặc trưng. Có thể nói hương vị của bánh có khả năng gây nghiện cho du khách tour du lịch miền Tây 4 ngày 3 đêm rất cao. Bởi chỉ cần thưởng thức qua là thấy lạ miệng và bị cuốn hút ngay. Và chắc chắn rằng, mùi thơm đặc trưng của bánh lá rau mơ rất khó tìm được ở các loại bánh khác.

Bánh lá rau mơ này nếu ăn không thì rất nhạt và không đúng kiểu. Bánh phải được ăn với nước cốt dừa thắng sền sệt, thêm chút muối, chút đường, đậu phộng giã nhỏ hoặc mè rang và hành lá cắt nhỏ là đúng bài nhất. Bánh vừa mới ra lò còn nóng hổi thơm lừng chấm với nước cốt dừa beo béo đưa lên miệng ăn là bảo đảm nghiện ngay.

Từ ngày xa xưa, bánh lá rau mơ được xem là món quà vặt rất được ưa thích của trẻ nhỏ. Ngày nay, món bánh này vẫn được nhiều người lớn yêu thích không chỉ vì độ ngon hấp dẫn mà còn vì món bánh này như một vật trung gian đưa kỷ niệm tuổi thơ ùa về. Ngày nay, nếu có dịp đến miền Tây thì việc thưởng thức món bánh này không hề khó vì hầu như món bánh lá rau mơ vẫn còn được "hâm mộ" ở mọi nơi. Từ các chợ lớn ở từng vùng hay các chợ nhỏ thôn quê thì vẫn không khó để tìm mua món bánh này. Nếu chưa từng được thưởng thức qua thì khi có dịp đến thăm miền Tây, bạn nhớ đừng bỏ qua món bánh lá rau mơ đặc biệt này nhé!

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

Vẻ đẹp tự nhiên tuyệt vời của chùa Tam Thanh

Được mệnh danh là “ Đệ nhất bát cảnh xứ Lạng” . Chùa Tam Thanh Lạng Sơn từ lâu là một địa chỉ du lịch tâm linh ấn tượng bởi vẻ đẹp tự nhiên, hoang sơ như chống bồng lai, một không gian tuyệt vời giữa thiên tạo và ước vọng của con người.

Chùa bên trong hang động

Chùa Tam Thanh tọa lạc bên trong núi đá, còn gọi là động Tam Thanh thuộc thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Theo sử liệu, chùa được xây dựng từ thời nhà Lê. Ngày nay nhiều dấu ấn lịch sử được thể hiện một cách khá rõ nét trên nhiều di tích của chùa.


Tên gọi Tam Thanh chỉ quần thể gồm ba hang động Nhất Thanh, Nhị Thanh và Tam Thanh. Chùa Tam Thanh được xây dựng trong động Tam Thanh nên chùa được lấy tên theo động.

Trên nền trời mây phủ quanh năm, giữa trùng điệp núi non hiểm trở. Sự hùng vĩ của đất trời biên cương càng làm cho chốn tâm linh trở nên huyền ảo, diệu kỳ và nhuốm màu sắc tâm linh.

Động Tam Thanh nằm tựa mình vào dãy núi có hình đàn voi nằm phục trên thảm cỏ xanh. Cửa động hướng về phía Đông, được những hàng cây cổ thụ bao phủ, che chắn như một án bình phong trấn giữ trước cửa thiền.

Bước chân vào động vãng cảnh chùa. Đầu tiên, bạn phải bước qua 30 bậc đá được người xưa đục sâu vào sường núi làm lối đi. Cứ mỗi bước chân đi lên, cảnh sắc xung quanh cũng dần thay đổi. Những hàng cây ven đường như muốn tỏa lại, chen chắn ngày càng dày thêm. Vách đá hai bên đường dựng đứng, cheo leo như thách thức.

Vào cửa động, đi qua cổng Tam quan các bạn sẽ thấy một không gian tâm linh, huyền bí đến ảo diệu. Từng gian thờ Phật được đặt ở nhiều vị trí khác nhau. Rất trang trọng, uy nghiêm chen lẫn giữa những thạch bàn sơn tạo.


Vách động trước cửa hang có bài thơ của Ngô Thì Sĩ ( 1726 – 1780) ca gợi vẻ đẹp hùng vĩ của đất trời. Bài thơ có đoạn viết: “ Suối trong tuôn chảy trong hàng trăm mỏm đá như đang trò chuyện. Quay lưng nhình lại ngọn núi phía trước thấy hòn Vọng Phu”.

Ngoài bài thơ trứ danh của Ngô Thì Sĩ. Chùa Tam Thanh Lạng Sơn còn khiến cho du khách du xuân đầu năm mãn nhãn với tượng phật A Di Đà màu trắng, mềm mại, thuần khiết nhưng cũng rất trang nghiêm. Pho tượng được tạc thẳng vào vách đá trong tư thế đứng trong hình lá đề. Tượng Phật mang phong cách kiến trúc và thể hiện một phần nào tư tưởng phật giáo nước ta thời Lê – Mạc. Tượng cao 202cm, rộng 65 cm trong tư thế áo cà sa buôn dài, chân định tuệ, tay chỉ xuống đất.

Bên trong chùa có nhiều dấu ấn văn hóa – lịch sử được thể hiện rõ nét qua nhiều bài thi, phú của các bậc tiền nhân. Điều đặc biệt ở chùa Tam Thanh không chỉ có là nơi thờ tôn tượng Thích Ca và chư Phật. Trong thời kỳ Tam giáo đồng nguyên, có lúc, chùa còn là nơi thờ Khổng Tử và Lão Tử – hai bậc minh triết của Nho giáo và Đạo giáo. Đây có lẽ là điều hiếm có ở bất kỳ một ngôi chùa nào ở Việt Nam.

Vào sau trong hang động, các bạn không khỏi ngỡ ngàng trước không gian tuyệt trần từ những hồ nước trong xanh, thác nước rả rích đêm ngày.

Một trong số đó là hồ Âm Ty, hồ nước đẹp nhất trong quần thể hang động ở Tam Thanh. Quanh năm, hồ Âm Ty quanh có màu nước xanh tươi, được bao phủ và xen cài của muôn trùng nhũ đá.


Nếu  lên xứ Lạng vào những ngày đầu xuân bạn đừng quên tham gia lễ hội chùa Tam Thanh Lạng Sơn vào rằm tháng giêng âm lịch. Tại lễ hội, nhiều nghi thức thực hành văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng dân tộc thiểu số vùng cao sẽ được tái hiện một cách đầy đủ và trọn vẹn. Các bạn sẽ có cơ hội tham gia vào các  trò chơi dân gian, đánh cờ người, bi sắt…đầy sôi động và nhộn nhịp.

Chốn tâm linh lặng tiếng chuông đời

Thật khó có thể nói cảm giác thư thái khi đặt chân đến chốn thiền môn sau những chuỗi ngày mệt mỏi, bận rộn vì công việc và mưu sinh.

Mọi lo âu nặng trĩu của nhân tình thế thái, oán hận, bi lụy ở đời nhường như bị xua tan trong phút chốc.  Bước qua cánh cửa Tam Quan lòng hết muộn phiền, đến hồ Âm Ty như thấy “ thiên đường” mở ra.

Cảnh đẹp của tạo hóa cùng với bàn tay của con người luôn ước vọng vào những điều tốt đẹp. Chùa Tam Thanh Lạng Sơn – bình dị mà thoát tục, gần gũi mà thanh cao, khiêm cung mà uy vũ.

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

Bức tranh sơn thủy hữu tình của đền Đông Cuông

Có một ngôi đền từ lâu nức tiếng ở tả ngạn thượng lưu sông Hồng, đó là đền Đông Cuông, tọa lạc ở thôn Bến Đền, xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Giá trị của đền Đông Cuông không chỉ ở bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, tâm linh, mà còn hấp dẫn du khách tour lễ hội đầu năm thập thương bởi ngôi đền nằm trong không gian, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp. Đền Đông Cuông đã được xếp hạng Di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia từ năm 2009.


Đền Đuông Cuông còn có tên gọi khác là đền Đông Quang, đền Thần Vệ Quốc. Người xưa đã khéo chọn phương cắm hướng đẹp nhất của vùng thượng lưu châu thổ sông Hồng để xây dựng đền Đông Cuông. Thế đất binh sự-phên giậu nhưng không xa rời thế nhân, nơi đền tọa lạc rất tĩnh tại mà không hề hiu quạnh. Vì thế, vừa bước chân vào khuôn viên ngôi đền, du khách cảm thấy thư thái tâm hồn bởi không gian thoáng đãng, phía sau và bên phải, bên trái ngôi đền là một màu xanh mướt mát của núi rừng, đồng ruộng, cỏ cây, còn phía trước mặt đền là dòng sông Hồng mênh mang nước chảy. Nằm dưới những tán lá sum suê của cây đa ngót 800 tuổi quanh năm tỏa bóng mát, đền Đông Cuông như ở giữa một bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình.

Nét độc đáo làm nên vẻ đẹp của Đông Cuông bởi ngôi đền này không chỉ thờ Mẫu Đệ nhị Thượng ngàn, mà còn thờ các thần Vệ quốc-các vị thần người bản địa đã có công giúp dân dẹp giặc Nguyên-Mông như Hà Đặc, Hà Chương, Hà Bổng… Một số người địa phương thuộc nghĩa quân Tày, Nùng, Dao tham gia khởi nghĩa chống Pháp (những năm 1913-1914) thất bại, bị chính quyền Pháp giết hại cũng được người dân bản địa tôn thờ tại đền Đông Cuông.

Trong tâm thức của người dân nơi đây, Mẫu Thượng ngàn đã trở thành con người thực, gắn liền với sông núi, hóa thân thành thần bản địa để nâng đỡ, che chở cho đồng bào các dân tộc trong vùng, vì thế bà con luôn coi Đông Cuông là một ngôi đền linh thiêng. Đền Mẫu Thượng ngàn Đông Cuông nằm trong trục văn hóa tâm linh dọc sông Hồng, gồm đền Mẫu Âu Cơ (Phú Thọ), đền Mẫu Đông Cuông (Yên Bái) và đền Bảo Hà (Lào Cai). Người dân vùng thượng lưu sông Hồng có câu ca lưu truyền: “Thứ nhất là hội Đền Hùng, thứ nhì là hội Đông Cuông” để nói lên tính chất đông vui, nhộn nhịp của hai lễ hội truyền thống trong vùng. Hằng năm, Lễ hội đền Đông Cuông Yên Bái được tổ chức vào ngày Mão đầu tiên của tháng Giêng và tháng Chín (âm lịch), vật tế là trâu trắng (tháng Giêng) và trâu đen (tháng Chín). Ngoài phần lễ, phần hội được tổ chức với nhiều trò chơi dân gian truyền thống như múa dân gian, hát chèo, diễn tích, ném còn, đánh vật... với ước vọng cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống an lành.


Trong khuôn khổ các hoạt động Năm Du lịch Quốc gia 2017-Lào Cai-Tây Bắc với chủ đề “Sắc màu Tây Bắc”, trong hai ngày 20 và 21-5-2017, tại đền Đông Cuông, UBND tỉnh Yên Bái đã tổ chức Festival Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng ngàn lần đầu tiên, thu hút sự tham gia của 54 bản hội đến từ 19 tỉnh, thành phố trong cả nước. Nhiều hoạt động tại Festival này đã quảng bá, giới thiệu rộng rãi những nét văn hóa đặc sắc của đền Đông Cuông nói riêng và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt-Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại nói chung, như: Carnaval thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu; thực hành 36 giá đồng; triển lãm, trưng bày tranh, ảnh, thực hành nghi lễ thờ Mẫu, các nghi lễ của các dân tộc trong vùng; trình diễn trang phục khăn chầu áo ngự...

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Nét uy nghi tinh xảo của dinh thự họ Vương Hà Giang

Nằm ở phía sau con đường bên hàng cây sa mộc cao vút, chiếc cổng đá bề thế của Dinh Thự Họ Vương hay còn gọi là dinh thự vua Mèo Vương Chính Đức - vị vua duy nhất được người Mông nơi đây suy tôn, và cai quản 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn ở Sà Phìn hiện ra ngay trên đỉnh đồi.


Tương truyền vào năm 1913 có một thuộc hạ của Vương Chính Đức tên là Cư Trồng Lù gợi ý thủ lĩnh nên thay đổi nơi ở. Theo ông này thì nơi đang ở chân núi cao, cạnh hẻm núi không hợp tuổi của vua nên bất lợi cho hậu thế sau này. Nghe vậy, họ Vương đã đi sang Trung Quốc để tìm thầy phong thủy sang Việt Nam. Vua đã dẫn thầy phong thủy đi qua cả 4 huyện trong khu vực cai quản của mình, cuối cùng thầy quyết định dừng tại thông Sà Phìn, với địa thế nằm giữa thung lũng Sà Phìn. Nơi đây có một khối đất nổi lên cao ví như mui con rùa, tượng trưng cho thần kim quy, nếu xây dinh tại đây thì sự nghiệp sẽ thành công.

Dinh thự này có tuổi đời gần 100 năm, chi phí tốn 15 vạn đồng bạc trắng Đông Dương, tương đương với 150 tỷ đồng hiện nay. Được xây dựng từ những thợ giỏi tay nghề và hàng vạn nhân công xây dựng trong 9 năm, xây từ 1919 đến 1928 thì hoàn thành.

Trước cổng vào Dinh thực du khách tour du lịch Hà Giang sẽ thấy hai hàng sa mộc đứng uy nghiêm, rắn chắc như những lính gác bảo vệ sự an toàn cho vua ở ngay lối dẫn vào dinh. Bao quanh khu dinh thự là một dải núi cao, tạo nên địa thế hình vòng cung ôm lấy toàn bộ ngôi nhà.

Toàn bộ Dinh thự có diện tích gần 3000m vuông, mang 3 nền kiến trúc văn hóa khác nhau: Trung Quốc, người Mông và Pháp. Ngôi nhà có 4 nhà ngang, 6 nhà dọc, được chia thành tiền dinh, trung dinh và hậu dinh có 64 buồng được xây 2 tầng tường bằng đá xanh.


Mái vách bằng gỗ thông và ngói làm từ đất nung. Lạc lối trên những phiến đá hoa cương có chạm khắc hoa văn ngay lối dẫn vào Dinh thự, mái nhà cong uốn lượn, trạm khắc tinh xảo, nhiều hoa văn.

Du khách du lịch Hà Giang 3 ngày 2 đêm sẽ được lần lượt khám phá khu tiền dinh - nơi ở của lính canh, lính hộ vệ và nô tỳ. Ở giữa khu Tiền và Trung có một sàn gỗ, chính là vực xét xử của cụ Đức. 

Trung dinh và Hậu dinh là nơi ở, làm việc của thành viên trong gia tộc họ Vương. Khu Trung hiện nay còn lưu nhiều bức ảnh của gia tộc, cũng là nơi thờ cúng tổ tiên.

Từ đỉnh đèo nhìn xuống hay trực tiếp đến nơi thì Dinh họ Vương vẫn nổi bật với lối kiến trúc đặc sắc giữa một thung lũng heo hút. Khu dinh thự này được Nhà nước công nhận là Di tích quốc gia năm 1993, sẽ là địa điểm khám phá thú vị cho khách du lịch.

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2018

Thắng cố - Món ăn đặc trưng độc đáo của Hà Giang

Thắng cố là món ăn truyền thống lâu đời, thường được người Mông làm vào các ngày lễ hội, lễ ăn thề bảo vệ rừng, những ngày có đông người như hội làng bản hay các buổi gặp mặt trong dòng họ… Ở các phiên chợ vùng cao các bếp nấu thắng cố bao giờ cũng thu hút được nhiều thực khách...

Đã bước vào đông, trời lành lạnh. Ra đường đã thấy người Hà Nội bắt đầu diện quần áo rét, trông thật thích mắt. Ngồi giữa thủ đô ăn một bát phở bò hôi hổi nóng, tôi chợt thèm cái rét cắt da cắt thịt ở vùng cao phía Bắc và bát thắng cố của người Mông mà trong đời mới chỉ được một hai lần thưởng thức.


Nói đến các món ăn độc đáo và truyền thống của đồng bào các dân tộc, ví như món phở của người Kinh, thì không thể không nói đến món thắng cố của người Mông. Thắng cố nghĩa là canh thịt, là món ăn được chế biến từ thịt bò, thịt trâu, thịt ngựa và cả thịt lợn. Tất cả các bộ phận thuộc “lục phủ ngũ tạng” của con vật, từ lòng, tim, gan, phổi, tiết, thịt… đến xương đều được cho vào chảo nước đun nhừ cùng các loại gia vị như thảo quả, quế, hồi… theo phong tục truyền thống của đồng bào Mông. Thường thịt, tiết, lòng được luộc chín, sau đó thái nhỏ vuông quân cờ thả vào chảo. Khi ăn, chảo vẫn để trên bếp đun, ăn đến đâu múc ra bát đến đó. thực khách du lịch Hà Giang có thể ăn thêm các loại rau, thường là rau cải rất sẵn ở vùng cao.

Thắng cố là món ăn truyền thống lâu đời, thường được người Mông làm vào các ngày lễ hội, lễ ăn thề bảo vệ rừng, những ngày có đông người như hội làng bản hay các buổi gặp mặt trong dòng họ… Ở các phiên chợ vùng cao các bếp nấu thắng cố bao giờ cũng thu hút được nhiều thực khách, không chỉ có người Mông đến thưởng thức món ăn truyền thống của mình mà hầu như người dân tộc nào đến chợ cũng muốn vào đây để ăn thắng cố, nhiều người không hẳn “nghiện” món ăn này mà chỉ ăn “một lần cho biết”.

Cách đây cũng đã trên 40 năm, năm 1976, vợ chồng tôi từ Nha Trang ra Hà Nội rồi lên thăm vợ chồng một người bạn thân cùng học hồi cấp 2, từ những năm 1957-1959 ở Hà Nội. Khi ấy vợ chồng anh bạn là giáo viên dạy học ở huyện miền núi Bắc Hà, Lào Cai. Vợ chồng anh bạn đưa vợ chồng tôi đi chơi chợ phiên Bắc Hà để biết không khí chợ phiên ở vùng cao và nhất là để ăn thắng cố, món ăn tuy tôi đã biết tiếng nhưng chưa một lần được thưởng thức. Đó là lần đầu tiên tôi được ngồi xổm quanh chảo thắng cố nấu bằng thịt ngựa, khách quanh mình có đủ cả người Kinh, người Mông, người Dao… cùng hít hà, cùng sì sụp, cùng nhấp môi bát rượu trắng Bắc Hà ủ bằng men lá, cứ nhè nhẹ, êm êm mà say đứ đừ.


Ăn thắng cố mà rượu uống không say, mà không biết hò, biết hát như người Mông thì chưa thật vui. Tôi không quá say, không chân nam đá chân xiêu, hay say đến mức không còn biết gì nữa như anh bạn người Mông phải nằm ngay bên chảo thắng cố để chờ vợ vực dậy, cho nằm vắt ngang mình ngựa giắt về. Nhưng lần ấy tôi say đủ để nhớ đến tận bây giờ cái thú được hít hà bát nước béo ngậy thơm mùi thảo quả nghi ngút hơi nước và cả hơi sương từ núi cao giữa ngày giá lạnh của món thắng cố và cái vị rất lạ của rượu trắng Bắc Hà ủ bằng men lá lần đầu tiên được thưởng thức trong đời.

Sau này, cái thứ rượu trắng ủ bằng men lá ấy một lần nữa cũng làm tôi ngây ngất say. Ấy là lần lên Hà Giang, chưa kịp đến Lũng Cú, Đồng Văn như dự định nhưng tôi lại được mấy cô gái người Tày, người Sán Chí mời uống rượu ngô ủ bằng men lá đến độ ngà ngà say nhưng còn đủ tỉnh táo để viết bốn câu thơ này:

Lại lỗi hẹn với Lũng Cú, Đồng Văn
Chưa đến được với Yên Minh, Quản Bạ
Có phải rượu em ủ bằng men lá
Ngấm vào anh để lần nữa quay về?

Lần thứ hai tôi được ăn thắng cố cách đây cũng đã 27 năm. Đó là năm 1990 tôi có một chuyến đi dọc các tỉnh miền núi Tây Bắc, được mấy người bạn làm báo ở Lai Châu rủ đi ăn thắng cố ở ngay trong chợ thị xã, cái thị xã cũ nằm bên dòng sông hay bị lũ lụt chứ không phải là thị xã mới chuyển đến bây giờ. Nhưng quả thật lần ăn thắng cố này tôi không còn thấy ngon như lần trước, có lẽ không phải là món ăn không ngon mà là thiếu cái “không khí ăn ngon”, dân dã bên chảo thắng cố mà lần đầu tôi được thưởng thức. Đó không phải là cái không khí của chợ phiên vùng cao, thuần chất dân tộc, đến chợ phải qua những con đường núi cheo leo, khúc khuỷu, gập ghềnh mà lại là không khí ăn uống của thị thành, đã nhuốm màu của kinh tế thị trường.

Cách đây đã mấy năm, có dịp lên Hà Giang, được đến Cột cờ Quốc gia Lũng Cú và thăm thị trấn Đồng Văn tôi được biết ở thị trấn nhỏ bé trên vùng cao nguyên đá được Tổ chức Văn hoá Khoa học Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Công viên địa chất thế giới này, hàng tháng có một đêm hội vui của đồng bào thị trấn và tại đó mọi người đều được mời ăn thắng cố miễn phí. Đó là do sáng kiến của chính quyền và ngành văn hoá địa phương, vận động các doanh nghiệp trong tỉnh và huyện luân phiên hỗ trợ tài chính mỗi tháng cho một xã trong huyện để tổ chức Đêm hội thắng cố vào tối 15 hàng tháng ở ngay trong khu chợ thị trấn Đồng Văn. Đêm lễ hội đó mọi người đều được cùng nhau hát hò và từ 9 giờ tối trên hai dãy bàn cuối chợ là những đĩa thịt nướng, những bát thắng cố được bày ra, mọi người bên nhau vừa uống rượu vừa ăn thắng cố không phải trả tiền, vui vẻ như đến nhà người thân dự lễ họp mặt với gia đình.


Phải nói không khí lễ hội này không còn giống không khí lễ hội và chợ phiên truyền thống của đồng bào Mông như tôi từng thấy ở chợ phiên Bắc Hà mấy chục năm trước. Nó có những nét hao hao giống nhiều lễ hội vùng cao khác bởi “hơi hướng kinh tế thị trường” đã len lỏi vào. Phổ biến nhất vẫn là hàng hoá tràn ngập, tiếng nhạc xập xình, những bài hát mới theo thể loại nhạc Rok, nhạc Pop thời thượng của giới trẻ người Kinh hiện nay… Nó vắng tiếng sáo Mông thật trầm, thật buồn, thật vang vọng, du dương, mà mỗi lần được nghe nó tôi như được thấy mình đang lang thang đâu đó trên những đỉnh đèo của bạt ngàn gió núi vùng cao Tây Bắc xa xôi. Nó vắng cả tiếng khèn và những điệu múa của các đôi trai gái người Mông, điều làm nên nét độc đáo của các phiên chợ vùng cao, ngoài những chảo thắng cố truyền thống không thể thiếu.

Vì thế, tôi không lấy làm lạ, như là một cảnh trái ngược, trên dãy phố ngay cạnh chợ Đồng Văn, nơi có hai dãy bàn bày thịt nướng và những bát thắng cố ăn miễn phí, uống cùng rượu ngô men lá, là những quầy hàng bán điện thoại di động và đồ điện tử “hoành tráng” với đèn quảng cáo xanh đỏ tim vàng và quán cà phê thời thượng dành cho “khách du lịch Tây” và khách tour Hà Giang 3 ngày 2 đêm sành điệu người Việt từ khắp nơi đến thăm, giá mỗi ly cà phê gần gấp rưỡi ly cà phê ở Hà Nội! Nhưng, dù không còn giữ được “nguyên bản” của không khí lễ hội truyền thống, không có cảnh quây quần sì sụp bên bếp lửa đỏ rực của những chảo thắng cố truyền thống của người Mông thì ở Đồng Văn vẫn còn những Đêm lễ hội thắng cố hàng tháng, miễn phí cho mọi người tham gia. Âu cũng là một nét đẹp văn hoá ẩm thực giữa thời buổi kim tiền này. Không biết ngoài Đồng Văn thì còn đâu tổ chức được những đêm lễ hội thắng cố miễn phí như thế?

Mùa đông lạnh giá này, bất giác tôi lại ước muốn được trở lại Bắc Hà, Lào Cai hay Đồng Văn, Mèo Vạc, Hà Giang để được ngồi bên bếp lửa hồng sì sụp, hít hà bát thắng cố thay cho bát phở tái gầu quen thuộc giữa phố xá thủ đô nêm chặt người này!