Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

Vẻ đẹp tự nhiên tuyệt vời của chùa Tam Thanh

Được mệnh danh là “ Đệ nhất bát cảnh xứ Lạng” . Chùa Tam Thanh Lạng Sơn từ lâu là một địa chỉ du lịch tâm linh ấn tượng bởi vẻ đẹp tự nhiên, hoang sơ như chống bồng lai, một không gian tuyệt vời giữa thiên tạo và ước vọng của con người.

Chùa bên trong hang động

Chùa Tam Thanh tọa lạc bên trong núi đá, còn gọi là động Tam Thanh thuộc thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Theo sử liệu, chùa được xây dựng từ thời nhà Lê. Ngày nay nhiều dấu ấn lịch sử được thể hiện một cách khá rõ nét trên nhiều di tích của chùa.


Tên gọi Tam Thanh chỉ quần thể gồm ba hang động Nhất Thanh, Nhị Thanh và Tam Thanh. Chùa Tam Thanh được xây dựng trong động Tam Thanh nên chùa được lấy tên theo động.

Trên nền trời mây phủ quanh năm, giữa trùng điệp núi non hiểm trở. Sự hùng vĩ của đất trời biên cương càng làm cho chốn tâm linh trở nên huyền ảo, diệu kỳ và nhuốm màu sắc tâm linh.

Động Tam Thanh nằm tựa mình vào dãy núi có hình đàn voi nằm phục trên thảm cỏ xanh. Cửa động hướng về phía Đông, được những hàng cây cổ thụ bao phủ, che chắn như một án bình phong trấn giữ trước cửa thiền.

Bước chân vào động vãng cảnh chùa. Đầu tiên, bạn phải bước qua 30 bậc đá được người xưa đục sâu vào sường núi làm lối đi. Cứ mỗi bước chân đi lên, cảnh sắc xung quanh cũng dần thay đổi. Những hàng cây ven đường như muốn tỏa lại, chen chắn ngày càng dày thêm. Vách đá hai bên đường dựng đứng, cheo leo như thách thức.

Vào cửa động, đi qua cổng Tam quan các bạn sẽ thấy một không gian tâm linh, huyền bí đến ảo diệu. Từng gian thờ Phật được đặt ở nhiều vị trí khác nhau. Rất trang trọng, uy nghiêm chen lẫn giữa những thạch bàn sơn tạo.


Vách động trước cửa hang có bài thơ của Ngô Thì Sĩ ( 1726 – 1780) ca gợi vẻ đẹp hùng vĩ của đất trời. Bài thơ có đoạn viết: “ Suối trong tuôn chảy trong hàng trăm mỏm đá như đang trò chuyện. Quay lưng nhình lại ngọn núi phía trước thấy hòn Vọng Phu”.

Ngoài bài thơ trứ danh của Ngô Thì Sĩ. Chùa Tam Thanh Lạng Sơn còn khiến cho du khách du xuân đầu năm mãn nhãn với tượng phật A Di Đà màu trắng, mềm mại, thuần khiết nhưng cũng rất trang nghiêm. Pho tượng được tạc thẳng vào vách đá trong tư thế đứng trong hình lá đề. Tượng Phật mang phong cách kiến trúc và thể hiện một phần nào tư tưởng phật giáo nước ta thời Lê – Mạc. Tượng cao 202cm, rộng 65 cm trong tư thế áo cà sa buôn dài, chân định tuệ, tay chỉ xuống đất.

Bên trong chùa có nhiều dấu ấn văn hóa – lịch sử được thể hiện rõ nét qua nhiều bài thi, phú của các bậc tiền nhân. Điều đặc biệt ở chùa Tam Thanh không chỉ có là nơi thờ tôn tượng Thích Ca và chư Phật. Trong thời kỳ Tam giáo đồng nguyên, có lúc, chùa còn là nơi thờ Khổng Tử và Lão Tử – hai bậc minh triết của Nho giáo và Đạo giáo. Đây có lẽ là điều hiếm có ở bất kỳ một ngôi chùa nào ở Việt Nam.

Vào sau trong hang động, các bạn không khỏi ngỡ ngàng trước không gian tuyệt trần từ những hồ nước trong xanh, thác nước rả rích đêm ngày.

Một trong số đó là hồ Âm Ty, hồ nước đẹp nhất trong quần thể hang động ở Tam Thanh. Quanh năm, hồ Âm Ty quanh có màu nước xanh tươi, được bao phủ và xen cài của muôn trùng nhũ đá.


Nếu  lên xứ Lạng vào những ngày đầu xuân bạn đừng quên tham gia lễ hội chùa Tam Thanh Lạng Sơn vào rằm tháng giêng âm lịch. Tại lễ hội, nhiều nghi thức thực hành văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng dân tộc thiểu số vùng cao sẽ được tái hiện một cách đầy đủ và trọn vẹn. Các bạn sẽ có cơ hội tham gia vào các  trò chơi dân gian, đánh cờ người, bi sắt…đầy sôi động và nhộn nhịp.

Chốn tâm linh lặng tiếng chuông đời

Thật khó có thể nói cảm giác thư thái khi đặt chân đến chốn thiền môn sau những chuỗi ngày mệt mỏi, bận rộn vì công việc và mưu sinh.

Mọi lo âu nặng trĩu của nhân tình thế thái, oán hận, bi lụy ở đời nhường như bị xua tan trong phút chốc.  Bước qua cánh cửa Tam Quan lòng hết muộn phiền, đến hồ Âm Ty như thấy “ thiên đường” mở ra.

Cảnh đẹp của tạo hóa cùng với bàn tay của con người luôn ước vọng vào những điều tốt đẹp. Chùa Tam Thanh Lạng Sơn – bình dị mà thoát tục, gần gũi mà thanh cao, khiêm cung mà uy vũ.

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

Bức tranh sơn thủy hữu tình của đền Đông Cuông

Có một ngôi đền từ lâu nức tiếng ở tả ngạn thượng lưu sông Hồng, đó là đền Đông Cuông, tọa lạc ở thôn Bến Đền, xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Giá trị của đền Đông Cuông không chỉ ở bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, tâm linh, mà còn hấp dẫn du khách tour lễ hội đầu năm thập thương bởi ngôi đền nằm trong không gian, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp. Đền Đông Cuông đã được xếp hạng Di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia từ năm 2009.


Đền Đuông Cuông còn có tên gọi khác là đền Đông Quang, đền Thần Vệ Quốc. Người xưa đã khéo chọn phương cắm hướng đẹp nhất của vùng thượng lưu châu thổ sông Hồng để xây dựng đền Đông Cuông. Thế đất binh sự-phên giậu nhưng không xa rời thế nhân, nơi đền tọa lạc rất tĩnh tại mà không hề hiu quạnh. Vì thế, vừa bước chân vào khuôn viên ngôi đền, du khách cảm thấy thư thái tâm hồn bởi không gian thoáng đãng, phía sau và bên phải, bên trái ngôi đền là một màu xanh mướt mát của núi rừng, đồng ruộng, cỏ cây, còn phía trước mặt đền là dòng sông Hồng mênh mang nước chảy. Nằm dưới những tán lá sum suê của cây đa ngót 800 tuổi quanh năm tỏa bóng mát, đền Đông Cuông như ở giữa một bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình.

Nét độc đáo làm nên vẻ đẹp của Đông Cuông bởi ngôi đền này không chỉ thờ Mẫu Đệ nhị Thượng ngàn, mà còn thờ các thần Vệ quốc-các vị thần người bản địa đã có công giúp dân dẹp giặc Nguyên-Mông như Hà Đặc, Hà Chương, Hà Bổng… Một số người địa phương thuộc nghĩa quân Tày, Nùng, Dao tham gia khởi nghĩa chống Pháp (những năm 1913-1914) thất bại, bị chính quyền Pháp giết hại cũng được người dân bản địa tôn thờ tại đền Đông Cuông.

Trong tâm thức của người dân nơi đây, Mẫu Thượng ngàn đã trở thành con người thực, gắn liền với sông núi, hóa thân thành thần bản địa để nâng đỡ, che chở cho đồng bào các dân tộc trong vùng, vì thế bà con luôn coi Đông Cuông là một ngôi đền linh thiêng. Đền Mẫu Thượng ngàn Đông Cuông nằm trong trục văn hóa tâm linh dọc sông Hồng, gồm đền Mẫu Âu Cơ (Phú Thọ), đền Mẫu Đông Cuông (Yên Bái) và đền Bảo Hà (Lào Cai). Người dân vùng thượng lưu sông Hồng có câu ca lưu truyền: “Thứ nhất là hội Đền Hùng, thứ nhì là hội Đông Cuông” để nói lên tính chất đông vui, nhộn nhịp của hai lễ hội truyền thống trong vùng. Hằng năm, Lễ hội đền Đông Cuông Yên Bái được tổ chức vào ngày Mão đầu tiên của tháng Giêng và tháng Chín (âm lịch), vật tế là trâu trắng (tháng Giêng) và trâu đen (tháng Chín). Ngoài phần lễ, phần hội được tổ chức với nhiều trò chơi dân gian truyền thống như múa dân gian, hát chèo, diễn tích, ném còn, đánh vật... với ước vọng cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống an lành.


Trong khuôn khổ các hoạt động Năm Du lịch Quốc gia 2017-Lào Cai-Tây Bắc với chủ đề “Sắc màu Tây Bắc”, trong hai ngày 20 và 21-5-2017, tại đền Đông Cuông, UBND tỉnh Yên Bái đã tổ chức Festival Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng ngàn lần đầu tiên, thu hút sự tham gia của 54 bản hội đến từ 19 tỉnh, thành phố trong cả nước. Nhiều hoạt động tại Festival này đã quảng bá, giới thiệu rộng rãi những nét văn hóa đặc sắc của đền Đông Cuông nói riêng và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt-Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại nói chung, như: Carnaval thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu; thực hành 36 giá đồng; triển lãm, trưng bày tranh, ảnh, thực hành nghi lễ thờ Mẫu, các nghi lễ của các dân tộc trong vùng; trình diễn trang phục khăn chầu áo ngự...

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Nét uy nghi tinh xảo của dinh thự họ Vương Hà Giang

Nằm ở phía sau con đường bên hàng cây sa mộc cao vút, chiếc cổng đá bề thế của Dinh Thự Họ Vương hay còn gọi là dinh thự vua Mèo Vương Chính Đức - vị vua duy nhất được người Mông nơi đây suy tôn, và cai quản 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn ở Sà Phìn hiện ra ngay trên đỉnh đồi.


Tương truyền vào năm 1913 có một thuộc hạ của Vương Chính Đức tên là Cư Trồng Lù gợi ý thủ lĩnh nên thay đổi nơi ở. Theo ông này thì nơi đang ở chân núi cao, cạnh hẻm núi không hợp tuổi của vua nên bất lợi cho hậu thế sau này. Nghe vậy, họ Vương đã đi sang Trung Quốc để tìm thầy phong thủy sang Việt Nam. Vua đã dẫn thầy phong thủy đi qua cả 4 huyện trong khu vực cai quản của mình, cuối cùng thầy quyết định dừng tại thông Sà Phìn, với địa thế nằm giữa thung lũng Sà Phìn. Nơi đây có một khối đất nổi lên cao ví như mui con rùa, tượng trưng cho thần kim quy, nếu xây dinh tại đây thì sự nghiệp sẽ thành công.

Dinh thự này có tuổi đời gần 100 năm, chi phí tốn 15 vạn đồng bạc trắng Đông Dương, tương đương với 150 tỷ đồng hiện nay. Được xây dựng từ những thợ giỏi tay nghề và hàng vạn nhân công xây dựng trong 9 năm, xây từ 1919 đến 1928 thì hoàn thành.

Trước cổng vào Dinh thực du khách tour du lịch Hà Giang sẽ thấy hai hàng sa mộc đứng uy nghiêm, rắn chắc như những lính gác bảo vệ sự an toàn cho vua ở ngay lối dẫn vào dinh. Bao quanh khu dinh thự là một dải núi cao, tạo nên địa thế hình vòng cung ôm lấy toàn bộ ngôi nhà.

Toàn bộ Dinh thự có diện tích gần 3000m vuông, mang 3 nền kiến trúc văn hóa khác nhau: Trung Quốc, người Mông và Pháp. Ngôi nhà có 4 nhà ngang, 6 nhà dọc, được chia thành tiền dinh, trung dinh và hậu dinh có 64 buồng được xây 2 tầng tường bằng đá xanh.


Mái vách bằng gỗ thông và ngói làm từ đất nung. Lạc lối trên những phiến đá hoa cương có chạm khắc hoa văn ngay lối dẫn vào Dinh thự, mái nhà cong uốn lượn, trạm khắc tinh xảo, nhiều hoa văn.

Du khách du lịch Hà Giang 3 ngày 2 đêm sẽ được lần lượt khám phá khu tiền dinh - nơi ở của lính canh, lính hộ vệ và nô tỳ. Ở giữa khu Tiền và Trung có một sàn gỗ, chính là vực xét xử của cụ Đức. 

Trung dinh và Hậu dinh là nơi ở, làm việc của thành viên trong gia tộc họ Vương. Khu Trung hiện nay còn lưu nhiều bức ảnh của gia tộc, cũng là nơi thờ cúng tổ tiên.

Từ đỉnh đèo nhìn xuống hay trực tiếp đến nơi thì Dinh họ Vương vẫn nổi bật với lối kiến trúc đặc sắc giữa một thung lũng heo hút. Khu dinh thự này được Nhà nước công nhận là Di tích quốc gia năm 1993, sẽ là địa điểm khám phá thú vị cho khách du lịch.

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2018

Thắng cố - Món ăn đặc trưng độc đáo của Hà Giang

Thắng cố là món ăn truyền thống lâu đời, thường được người Mông làm vào các ngày lễ hội, lễ ăn thề bảo vệ rừng, những ngày có đông người như hội làng bản hay các buổi gặp mặt trong dòng họ… Ở các phiên chợ vùng cao các bếp nấu thắng cố bao giờ cũng thu hút được nhiều thực khách...

Đã bước vào đông, trời lành lạnh. Ra đường đã thấy người Hà Nội bắt đầu diện quần áo rét, trông thật thích mắt. Ngồi giữa thủ đô ăn một bát phở bò hôi hổi nóng, tôi chợt thèm cái rét cắt da cắt thịt ở vùng cao phía Bắc và bát thắng cố của người Mông mà trong đời mới chỉ được một hai lần thưởng thức.


Nói đến các món ăn độc đáo và truyền thống của đồng bào các dân tộc, ví như món phở của người Kinh, thì không thể không nói đến món thắng cố của người Mông. Thắng cố nghĩa là canh thịt, là món ăn được chế biến từ thịt bò, thịt trâu, thịt ngựa và cả thịt lợn. Tất cả các bộ phận thuộc “lục phủ ngũ tạng” của con vật, từ lòng, tim, gan, phổi, tiết, thịt… đến xương đều được cho vào chảo nước đun nhừ cùng các loại gia vị như thảo quả, quế, hồi… theo phong tục truyền thống của đồng bào Mông. Thường thịt, tiết, lòng được luộc chín, sau đó thái nhỏ vuông quân cờ thả vào chảo. Khi ăn, chảo vẫn để trên bếp đun, ăn đến đâu múc ra bát đến đó. thực khách du lịch Hà Giang có thể ăn thêm các loại rau, thường là rau cải rất sẵn ở vùng cao.

Thắng cố là món ăn truyền thống lâu đời, thường được người Mông làm vào các ngày lễ hội, lễ ăn thề bảo vệ rừng, những ngày có đông người như hội làng bản hay các buổi gặp mặt trong dòng họ… Ở các phiên chợ vùng cao các bếp nấu thắng cố bao giờ cũng thu hút được nhiều thực khách, không chỉ có người Mông đến thưởng thức món ăn truyền thống của mình mà hầu như người dân tộc nào đến chợ cũng muốn vào đây để ăn thắng cố, nhiều người không hẳn “nghiện” món ăn này mà chỉ ăn “một lần cho biết”.

Cách đây cũng đã trên 40 năm, năm 1976, vợ chồng tôi từ Nha Trang ra Hà Nội rồi lên thăm vợ chồng một người bạn thân cùng học hồi cấp 2, từ những năm 1957-1959 ở Hà Nội. Khi ấy vợ chồng anh bạn là giáo viên dạy học ở huyện miền núi Bắc Hà, Lào Cai. Vợ chồng anh bạn đưa vợ chồng tôi đi chơi chợ phiên Bắc Hà để biết không khí chợ phiên ở vùng cao và nhất là để ăn thắng cố, món ăn tuy tôi đã biết tiếng nhưng chưa một lần được thưởng thức. Đó là lần đầu tiên tôi được ngồi xổm quanh chảo thắng cố nấu bằng thịt ngựa, khách quanh mình có đủ cả người Kinh, người Mông, người Dao… cùng hít hà, cùng sì sụp, cùng nhấp môi bát rượu trắng Bắc Hà ủ bằng men lá, cứ nhè nhẹ, êm êm mà say đứ đừ.


Ăn thắng cố mà rượu uống không say, mà không biết hò, biết hát như người Mông thì chưa thật vui. Tôi không quá say, không chân nam đá chân xiêu, hay say đến mức không còn biết gì nữa như anh bạn người Mông phải nằm ngay bên chảo thắng cố để chờ vợ vực dậy, cho nằm vắt ngang mình ngựa giắt về. Nhưng lần ấy tôi say đủ để nhớ đến tận bây giờ cái thú được hít hà bát nước béo ngậy thơm mùi thảo quả nghi ngút hơi nước và cả hơi sương từ núi cao giữa ngày giá lạnh của món thắng cố và cái vị rất lạ của rượu trắng Bắc Hà ủ bằng men lá lần đầu tiên được thưởng thức trong đời.

Sau này, cái thứ rượu trắng ủ bằng men lá ấy một lần nữa cũng làm tôi ngây ngất say. Ấy là lần lên Hà Giang, chưa kịp đến Lũng Cú, Đồng Văn như dự định nhưng tôi lại được mấy cô gái người Tày, người Sán Chí mời uống rượu ngô ủ bằng men lá đến độ ngà ngà say nhưng còn đủ tỉnh táo để viết bốn câu thơ này:

Lại lỗi hẹn với Lũng Cú, Đồng Văn
Chưa đến được với Yên Minh, Quản Bạ
Có phải rượu em ủ bằng men lá
Ngấm vào anh để lần nữa quay về?

Lần thứ hai tôi được ăn thắng cố cách đây cũng đã 27 năm. Đó là năm 1990 tôi có một chuyến đi dọc các tỉnh miền núi Tây Bắc, được mấy người bạn làm báo ở Lai Châu rủ đi ăn thắng cố ở ngay trong chợ thị xã, cái thị xã cũ nằm bên dòng sông hay bị lũ lụt chứ không phải là thị xã mới chuyển đến bây giờ. Nhưng quả thật lần ăn thắng cố này tôi không còn thấy ngon như lần trước, có lẽ không phải là món ăn không ngon mà là thiếu cái “không khí ăn ngon”, dân dã bên chảo thắng cố mà lần đầu tôi được thưởng thức. Đó không phải là cái không khí của chợ phiên vùng cao, thuần chất dân tộc, đến chợ phải qua những con đường núi cheo leo, khúc khuỷu, gập ghềnh mà lại là không khí ăn uống của thị thành, đã nhuốm màu của kinh tế thị trường.

Cách đây đã mấy năm, có dịp lên Hà Giang, được đến Cột cờ Quốc gia Lũng Cú và thăm thị trấn Đồng Văn tôi được biết ở thị trấn nhỏ bé trên vùng cao nguyên đá được Tổ chức Văn hoá Khoa học Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Công viên địa chất thế giới này, hàng tháng có một đêm hội vui của đồng bào thị trấn và tại đó mọi người đều được mời ăn thắng cố miễn phí. Đó là do sáng kiến của chính quyền và ngành văn hoá địa phương, vận động các doanh nghiệp trong tỉnh và huyện luân phiên hỗ trợ tài chính mỗi tháng cho một xã trong huyện để tổ chức Đêm hội thắng cố vào tối 15 hàng tháng ở ngay trong khu chợ thị trấn Đồng Văn. Đêm lễ hội đó mọi người đều được cùng nhau hát hò và từ 9 giờ tối trên hai dãy bàn cuối chợ là những đĩa thịt nướng, những bát thắng cố được bày ra, mọi người bên nhau vừa uống rượu vừa ăn thắng cố không phải trả tiền, vui vẻ như đến nhà người thân dự lễ họp mặt với gia đình.


Phải nói không khí lễ hội này không còn giống không khí lễ hội và chợ phiên truyền thống của đồng bào Mông như tôi từng thấy ở chợ phiên Bắc Hà mấy chục năm trước. Nó có những nét hao hao giống nhiều lễ hội vùng cao khác bởi “hơi hướng kinh tế thị trường” đã len lỏi vào. Phổ biến nhất vẫn là hàng hoá tràn ngập, tiếng nhạc xập xình, những bài hát mới theo thể loại nhạc Rok, nhạc Pop thời thượng của giới trẻ người Kinh hiện nay… Nó vắng tiếng sáo Mông thật trầm, thật buồn, thật vang vọng, du dương, mà mỗi lần được nghe nó tôi như được thấy mình đang lang thang đâu đó trên những đỉnh đèo của bạt ngàn gió núi vùng cao Tây Bắc xa xôi. Nó vắng cả tiếng khèn và những điệu múa của các đôi trai gái người Mông, điều làm nên nét độc đáo của các phiên chợ vùng cao, ngoài những chảo thắng cố truyền thống không thể thiếu.

Vì thế, tôi không lấy làm lạ, như là một cảnh trái ngược, trên dãy phố ngay cạnh chợ Đồng Văn, nơi có hai dãy bàn bày thịt nướng và những bát thắng cố ăn miễn phí, uống cùng rượu ngô men lá, là những quầy hàng bán điện thoại di động và đồ điện tử “hoành tráng” với đèn quảng cáo xanh đỏ tim vàng và quán cà phê thời thượng dành cho “khách du lịch Tây” và khách tour Hà Giang 3 ngày 2 đêm sành điệu người Việt từ khắp nơi đến thăm, giá mỗi ly cà phê gần gấp rưỡi ly cà phê ở Hà Nội! Nhưng, dù không còn giữ được “nguyên bản” của không khí lễ hội truyền thống, không có cảnh quây quần sì sụp bên bếp lửa đỏ rực của những chảo thắng cố truyền thống của người Mông thì ở Đồng Văn vẫn còn những Đêm lễ hội thắng cố hàng tháng, miễn phí cho mọi người tham gia. Âu cũng là một nét đẹp văn hoá ẩm thực giữa thời buổi kim tiền này. Không biết ngoài Đồng Văn thì còn đâu tổ chức được những đêm lễ hội thắng cố miễn phí như thế?

Mùa đông lạnh giá này, bất giác tôi lại ước muốn được trở lại Bắc Hà, Lào Cai hay Đồng Văn, Mèo Vạc, Hà Giang để được ngồi bên bếp lửa hồng sì sụp, hít hà bát thắng cố thay cho bát phở tái gầu quen thuộc giữa phố xá thủ đô nêm chặt người này!

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

Vẻ đẹp thiên tạo đầy quyến rũ của hố Giang Thơm

Con đường nhỏ từ thị trấn Núi Thành dẫn xuống bãi Rạng (xã Tam Quang, Núi Thành, Quảng Nam) như kéo dài nỗi khát khao tận hưởng sắc trời của biển. Nếu không theo đường này, thì dong thuyền theo dòng Trường Giang, xuôi ra cửa bể rồi quanh vào Rạng, bạn sẽ ngập trong màu xanh bất tận của sông biển và bất ngờ trước dáng ông Đụn, bà Che tím một khoảng trời…. Từ thị trấn Núi Thành, nếu chưa vội chu du xuống biển, du khách bỏ chút ít thời gian ngược chừng 7km về hướng Tây, đến với một thác núi đẹp hoang sơ mà thiên nhiên ưu đãi ban tặng. Thác Hố Giang Thơm luyến lưu những du khách du lịch Quảng Nam Đà Nẵng thích sự lãng mạn và cũng đủ thách thức sự mạo hiểm khám phá.


Nằm cách quốc lộ 1A khoảng 10km về phía Tây, thuộc địa bàn thị trấn Núi Thành, huyện Núi Thành. Hố Giáng Thơm là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng của tỉnh Quảng Nam.Vào những ngày hè oi bức, người dân huyện Núi Thành cũng như nhiều nơi khác thường tìm về Hố Giang Thơm để tắm mát trên những dòng suối trong lành.

Hố Giáng Thơm được kiến tạo bởi những dải đá nổi chìm chạy dài suốt gần 01 km, ở đầu nguồn có một con suối nhỏ, nước từ trên cao đổ xuống, tạo ra những thác nước rì rào suốt ngày đêm. Ngay dưới chân những thác nước, những dòng chảy đã tạo thành những vũng nước sâu, ở đây nước luôn trong xanh, từ trên cao nhìn xuống, cảnh vật như được thu nhỏ lại trong một tấm gương soi dưới dòng nước. Tất cả hòa quyện với những áng mây và sương trời, tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình, mà mỗi một du khách khi đặt chân tới đây đều phải ngẫn ngơ trước vẻ đẹp hoang sơ, đầy chất trữ tình mà thiên nhiên đã ban tặng cho Hố Giang Thơm; thêm vào đó khí hậu của Giang Thơm mát mẻ, cho du khách vào những ngày hè nóng bức.

Khu vực Giáng Thơm có ba hố nước, phân cách nhau bởi những mỏm đá lồi và cao, ở đây có những tảng đá rộng, dụa sát vào vách núi, nơi khách tham quan có thể đứng lại để nghỉ ngơi, ngồi ngắm cảnh, thả hồn theo tiếng suối sau những giờ thả bộ viếng cảnh Giang Thơm. Suốt dọc theo con suối là những triền đá nhấp nhôm, lởm chởm, hấp dẫn những du khách du lịch hè 2018 tìm cảm giác lạ đến đầu nguồn con suối.


Hố Giáng Thơm được người dân gọi là Hồ Xen Thơm, Dân Thơm, Thác Hố Giang Thơm hay thác 11 tầng. Riêng với "phượt thủ" hay những người thích khám phá, thác còn có một tên khác ngộ nghĩnh không kém, thác Gian Nan. Có tên như vậy bởi đường lên thác không đơn giản là rong xe máy hay ô tô thẳng vào đến nơi, mà mỗi người phải vật vã chiến đấu với con đường đất đầy lầy lội, với những tảng đá trơn trượt, những con dốc chênh vênh, với cả cách đi nhắm hướng mà đến chứ không có bất kỳ bảng chỉ dẫn hay nhà dân nào để hỏi thăm.

Bù lại nỗi vất vả suốt chặng đường đến với thác, ngay khi đặt chân đến với Hố Giáng Thơm, những cảm giác mệt mỏi dường như sẽ tan biến bởi âm thanh sôi động của thác và suối. Phía xa, con suối đầu nguồn đổ xuống các tảng đá tạo thành những ngọn thác đẹp quyến rũ. Ở đoạn trũng, suối hình thành những hồ nhỏ phẳng lặng, trong vắt. Giữa cảnh vật thiên nhiên thơ mộng, đôi khi du khách phải dừng bước ngẩn ngơ bởi vẻ hoang sơ kỳ diệu của thiên nhiên đã ban tặng cho con người.

Đến với Hố Giáng Thơm mỗi người có một cảm xúc và cách biểu hiện rất riêng. Người lãng mạn thì thả mình trên những tảng đá, tai nghe tiếng gió xào xạc, tiếng nước chảy, tiếng chim hót, miệng thì thầm vài ca khúc yêu thích. Người có tâm sự thì không đợi gọi mời, lập tức hòa mình trong hồ nước trong xanh, mát lạnh, thả trôi mọi phiền muộn lo lắng.


Với những người thích cảm giác mạnh có thể leo lên các mõm đá nhấp nhô để chinh phục những ngọn thác cao. Trên đầu nguồn con suối, một hồ nước phẳng lặng hiện ra như gọi mời. Khác với phía dưới luôn ào ào thác đổ, tại đây rất yên vắng và gần gũi với những ai muốn đi tìm một khung cảnh tĩnh mịch và thi vị giữa thiên nhiên hoang dã.

Hố Giang Thơm thực sự là địa điểm lý tưởng cho loại hình du lịch sinh thái, dã ngoại. Tuy đường xa nhưng vào mùa hè, lượng khách đến đây vui chơi đến hàng trăm người mỗi ngày. Điều đó chứng tỏ Hố Giang Thơm có sức hút thực sự với người dân. Chẳng những người địa phương biết đến Hố Giang Thơm, nhiều bạn trẻ từ nơi khác cũng tìm về đây tham quan nghỉ ngơi.

Với vẻ đẹp thiên tạo đầy quyến rũ của Giang Thơm hòa quyện với những áng mây và sương sớm, tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình, mà mỗi một du khách khi đặt chân tới đây đều phải ngẩn ngơ trước vẻ đẹp hoang sơ, đầy chất trữ tình mà thiên nhiên đã ban tặng cho Hố Giang Thơm.

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2018

Giá trị văn hóa lịch sử hấp dẫn độc đáo của chùa Xà Tón

Chùa Xà Tón là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng không chỉ của An Giang mà còn của cả nước. Chùa Xà Tón được xây dựng cách nay khoảng 300 năm, trên một khu đất rộng nằm ngay trung tâm thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Theo lời kể, thuở đó, vùng này còn là khu đất hoang vu, cây cối rậm rạp. Trên những ngọn cây, từng đàn khỉ chuyền cành, đôi lúc chúng còn cả gan chọc ghẹo, níu kéo khách qua đường. Cảnh quan đẹp, u nhã xứng đáng là nơi thờ tự tôn nghiêm, nên đồng bào Khmer quyết định chọn khu đất này làm nơi lập chùa. Đầu tiên chùa được xây bằng gỗ, lợp lá, nền đất đơn sơ. Với đặc thù có nhiều khỉ sinh sống và thường hay níu kéo khách tour miền Tây 4 ngày 3 đêm nên chùa được đặt tên theo tiếng Khmer là Xrayton (Xray là khỉ và ton là kéo). Xrayton đọc âm là Xà Tón. Tên gọi Xà Tón này một thời gian dài còn dùng gọi luôn tên thị trấn và tên huyện lỵ miền biên giới này cho đến khi đổi lại là Tri Tôn.


Chùa Xà Tón là một ngôi chùa thờ Phật theo phái Tiểu thừa của đồng bào Khmer Nam bộ. Cũng giống như bất cứ ngôi chùa Khmer Nam bộ khác, chùa Xà Tón được các vị sư cho xây dựng lần hồi, theo kiểu “tàm thực”. Nghĩa là khi con sóc (bổn đạo) quyên cúng tiền đến đâu thì chùa được tiến hành xây cất đến đó cho tới khi hoàn tất. Năm 1896 và năm 1933, chùa Xà Tón được xây dựng lại bằng gạch ngói, cột gỗ căm xe, nền chùa bằng đá xanh vôi ô dước (cao 1,8 m), theo kiến trúc cổ truyền của người Khmer Nam bộ. Chính điện nằm ngay trung tâm khuôn viên chùa, mặt quay về hướng Đông Tây, nóc nhọn và hai mái cong gộp lại gợi hình ảnh rắn thần Naga (tượng trưng cho sự bất diệt và dũng mãnh) nằm dài. Mái chùa được cấu trúc hình tam cấp ngói đỏ, xanh, vàng. Trong ánh nắng, lớp mái ngói này hừng lên một sắc màu đẹp mắt. Quanh ngôi chính điện có khá nhiều những ngôi tháp nhỏ màu sắc rực rỡ. Trên đỉnh các ngôi tháp này đều được chạm tượng thần Bayon (thần Bốn Mặt, thần Sáng Tạo) bằng đá. Đây là nơi thờ tự hài cốt của các vị sư trụ trì đã viên tịch. Phía trước chính điện có một ao rộng trồng sen và súng phủ bóng mát một hàng dừa. Những khi sen và súng nở bông, cả mặt ao rực màu hoa phớt đỏ lá xanh non, rất đẹp. Cạnh hàng dừa có một tượng Phật lớn được tạc trong thế thiền định dưới bóng cây lâm vồ. Cây lâm vồ này, theo các sư, có tuổi thọ trên trăm năm, gốc khoảng mười người ôm, cành lá xum xuê, mát rượi.

Trong chính điện có 4 hàng cột bằng gỗ căm xe, mỗi hàng có 7 cây cột. Nền chùa lát gạch bông, tường gạch vôi ô dước. Trên các vách tường là các bức bích họa nhiều màu sắc tái hiện một phần Phật thoại. Đặc biệt, ở một bên vách, có một tượng Phật lớn bằng xi măng, thể hiện cảnh Phật ngồi kiết già trên bệ cao với nhiều tượng gỗ sắp xếp xung quanh. Chính điện chùa là nơi hành lễ và thuyết pháp của các sư đối với con sóc. Trong khuôn viên chùa còn có một số dãy nhà khác gồm: nhà khách, hội trường, nhà tăng lữ, nhà bếp... Các dãy nhà này xây nhỏ hơn chính điện nhưng nhà nào cũng có hai mái cong gộp lại, nóc nhọn, hai bên mái tạc đuôi rắn thần Naga.   

Hiện nay, chùa Xà Tón còn lưu giữ trên 100 bộ kinh bằng chữ Phạn được viết trên những chiếc lá buông mà người Khmer gọi là bộ sách “Sa Tra”. Chính vì vậy mà vào năm 2006 chùa đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục giữ nhiều sách kinh lá có tại Việt Nam. Trước đó, năm 1986, chùa Xà Tón được Bộ Văn hóa công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.


Cũng giống như các ngôi chùa Khmer khác, theo truyền thống, chùa Xà Tón ngoài thờ Phật còn là trung tâm văn hóa, nơi gìn giữ những phong tục, tập quán, kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật cổ truyền của đồng bào Khmer. Ngoài những cuộc lễ nhỏ, mỗi năm chùa Xà Tón còn tổ chức 5 lễ lớn là: Chol Chnam Thmay (tết mừng năm mới) vào các ngày 13, 14, 15 tháng 4 dương lịch. Lễ Pi-sát bô-chia vào ngày rằm tháng 4 âm lịch nhằm nhớ ơn Phật tổ (ngày Phật đản sinh). Lễ Chôl Neasa là lễ cấm ba tháng sư không ra khỏi chùa (từ rằm tháng 6 đến rằm tháng 9 âm lịch). Lễ Kà Thận là lễ sắm quần áo cho sư cùng các vật dụng cho nhà chùa hoặc cho trường học địa phương. Đặc biệt nhất là lễ Dolta (còn gọi là Pha chun bênh), lễ ông bà (giống như lễ Thanh minh), kéo dài từ mồng 1 đến 15 tháng 10 âm lịch. Suốt những ngày này, con sóc mang bánh tét, hoa quả, cơm canh đến chùa cúng tế để tỏ lòng biết ơn người quá cố cũng như cầu an, cầu phúc cho gia đình...

Với nhiều lễ hội truyền thống ấy, với vị trí địa lý thuận lợi, với giá trị lịch sử văn hóa dân tộc, chùa Xà Tón là điểm tham quan hấp dẫn của hầu như tất cả mọi du khách du lịch miền Tây Nam Bộ đi đến khu vực này.

Thứ Tư, 8 tháng 8, 2018

Vẻ đẹp hài hòa say đắm lòng người của Hà Tiên

Hà Tiên lâu nay vẫn được gọi là “thập cảnh” bởi có rất nhiều cảnh đẹp khác nhau cùng vươn ra biển khơi lộng gió, ngày cũng như đêm. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Hà Tiên một tổng thể biển, đảo và bờ biển hài hoà ít có ở đâu quyện lẫn với nhau thiên thời - địa lợi - nhân hòa như thế.

Thiên nhiên đã ưu đãi cho Hà Tiên một tổng thể biển, đảo và bờ biển hài hoà ít có ở đâu quyện lẫn với nhau thiên thời - địa lợi - nhân hòa như thế. Đó là quần thể từ thế núi cao ăn men sát mé biển; biển xanh, đảo rộng và đẹp, và cả đồng bằng cùng kết hợp thành một vùng vừa đẹp như tên gọi xứ sở Hà Tiên hơn 300 năm trước, vừa say đắm lòng người.


Từ trung tâm thành phố Rạch Giá, đi khoảng 800m là đến dãy núi Lăng. Tại đây có Ao Sen dưới chân núi - một công trình thuỷ lợi kết gắn tình nghĩa của bà con Kinh - Khmer chung sức chung lòng làm ra, có từ thời Mạc Thiên Tích, cuối thế kỷ XVIII, nơi trữ nước sinh hoạt quý giá cho người dân quanh cả vùng. Di tích này còn là nơi an táng của người khai sáng ra vùng đất – dòng họ Mạc Cửu làm rạng rỡ tên đất, tên người Hà Tiên, được nhân dân gần 300 năm trước rất tôn trọng, cho công khai khẩn vùng đất từ hoang vu thành sầm uất như hôm nay.

Đền thờ dòng họ Mạc - vào mở mang vùng đất Hà Tiên - được gọi là miếu Lệnh. Lăng Mạc Cửu và đền thờ do Mạc Thiên Tích, người thiết kế, được xây dựng khỏang từ năm 1735 - 1739. Ngôi mộ lớn nhất của Mạc Cửu có hình bán nguyệt ăn sâu vào núi. Nơi chôn hài cốt Mạc Cửu được đúc bằng đá vôi, cát, đường và nhựa ô dước quý mà dân dã cách đây gần 300 năm. Du khách du lịch Hà Nội Phú Quốc 4 ngày 3 đêm lên đây viếng lăng dòng họ Mạc cũng thấy kỹ thuật xây đúc mộ từ hơn 200 năm trước, giờ con cháu đâu có thể vượt qua. Trên núi Lăng, phía trước hai bên mộ có hai tượng tướng cầm gươm đứng hầu bằng đá xanh. Nay hai bức tượng đó bị trộm cưa mất và được đúc lại bằng xi măng, có kém đi về thẩm mỹ. Lăng mộ Mạc Cửu được đặt đúng theo thuật phong thổ: tiền án là núi Tô Châu, hậu chẩm là núi Bình Sơn, trước lăng có dòng lưu thuỷ đó là Đông Hồ, phía tả là núi Bát Giác, phía hữu là núi Pháo Đài có tên chữ là Đại Kim Dự. Mặt lăng mộ quay về hướng Đông, lưng tựa núi hai bên theo thế tì lưng an tọa. Khu mộ rất kiên cố vượt qua thời gian, nên dù gần 300 năm nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc ban đầu, cổ kính mà trang trọng, quyến rũ; hầu hết các bia mộ đá từ xưa thế nhìn ra biển mà vẫn đầy nguyên vẹn gần 300 năm.


Qua sân đá "Bái Đình" hình bán nguyệt viếng mộ Mạc Cửu xong, ta đi thăm các lăng mộ khác ở rải rác khắp các triền núi Bình Sơn như lăng mộ Mạc Thiên Tích, Nguyễn Thị Hiếu Túc (vợ Mạc Thiên Tích)... được khoét sâu vào triền núi, thế nhìn ra biển khơi. Trên đỉnh núi Lăng có nền Xã Tắc, nền Xuyên Sơn. Tục truyền, thời Mạc Thiên Tích, hàng năm vào ngày 9 tháng giêng âm lịch thường diễn ra lễ tế trời, tế thần núi, thần sông tại nền Xuyên Sơn và tế các chiến sĩ vong trận tại nền Xã Tắc, cho núi thần, biển xanh Hà Tiên cứ còn mãi ngàn xuân.

Con đường do tỉnh Kiên Giang mới mở chạy quanh chân núi Đèn có bờ biển xanh thẳm tuyệt đẹp, nối liền đến tận khu du lịch Mũi Nai, là điểm cuối trên đất liền của biên giới Việt Nam - nơi tiếp giáp vùng biển 3 nước Việt Nam – Cam-pu-chia – Thái Lan. Trên đỉnh núi Đèn, vẫn còn đó ngọn hải đăng hơn trăm năm tuổi, vẫn hằng đêm rọi sáng dẫn đường cho các con tàu từ biển đi,về.

Từ Mũi Nai ra xa bờ chừng vài trăm mét có rất nhiều đảo nhỏ, đảo lớn của quần đảo Bình Trị và Hải Tặc. Hai quần đảo này cũng là nơi du lịch rất lý tưởng trong tuyến du lịch biển - đảo. Từ ngoài biển nhìn vào mũi đất này giống hệt cái đầu của một chú nai chà nằm nghểnh ra biển. Khi du khách tour đi Phú Quốc 3 ngày 2 đêm tắm xong mệt, đói thì vào quán bình dân trên bãi gọi vài thứ thức ăn biển, thật khó mà chê.


Về Hà Tiên, có một điều thú vị nữa là Chợ đêm Hà Tiên. Ở nơi cuối nguồn đất nước có nhiều thứ lạ mà gần gũi với bà con ta. Trong chợ có nhiều dãy hàng tạp hoá đủ chủng loại từ mỹ phẩm, vải vóc màu sắc sặc sỡ đến những món hàng mỹ nghệ bằng đá, vỏ ốc, thuỷ tinh, nhựa cho đến trang sức bằng vàng và đá quý, bày bán ngay trên vỉa hè. Quán hàng ăn đêm với đủ món bình dân: cháo trắng với cá cơm kho khô, hủ tiếu Nam Vang hải sản, bún kèn dừa - món ngon độc đáo của người Khmer. Những quán rượu ven đường bán mấy món nhậu đơn giản như khô cá đuối, khô cá khoai, khô mực, ốc biển, sò huyết... kèm với cóc, ổi, xoài rất bình dân, ai mua cũng vừa lòng. Tại chợ có một số quán ăn, phục vụ cho du khách suốt đêm.

Nếu nói du lịch biển, thì đây là vùng đất trời cho của Hà Tiên và cả tỉnh Kiên Giang. Đây cũng là thế mạnh mà Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Kiên Giang thấy rõ, nên hàng năm, mùa du lịch sau tháng giêng và những tháng hè, du khách từ mọi miền đến đây trung bình mỗi ngày có trên 4.000 – 5.000 người. Bây giờ đường bay từ Sài Gòn ra Phú Quốc thuận tiện, đường biển từ Hà Tiên ra Phú Quốc ngày có mấy chuyến, nên biển Hà Tiên và các đảo Kiên Giang đang ngày một chứng tỏ thế mạnh của kinh tế biển.


So với các tỉnh có biển ở Nam Bộ, Hà Tiên và tỉnh Kiên Giang là nơi có nhiều thế mạnh. Những năm gần đây, đã thu hút đông đảo nhất lượng khách của mọi miền, kể cả từ Thái Lan, Cam-pu-chia. Mỗi năm có gần 2 triệu  lượt người đã đến thăm thú, du lịch biển tại Hà Tiên – Phú Quốc. Thế mạnh này của tỉnh càng phát huy khi gần đây Chính phủ đã có quy họach chính thức về phát triển toàn diện của quần đảo Phú Quốc. Hy vọng rằng, trong thời gian không xa, tiềm năng biển và hải đảo Kiên Giang - Hà Tiên ngày càng được Đảng bộ, Chính quyền tỉnh chú ý phát huy, để thế mạnh trên 300 km bờ biển, hải đảo, quần đảo Phú Quốc, nơi cuối cùng của vùng đất phương Nam, ngày càng là điểm hẹn đầy lý thú của du khách quốc tế, trong nước đến thăm.