Hiển thị các bài đăng có nhãn du-lich-hue. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn du-lich-hue. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

Điện Voi ré - Công trình độc đáo bên trong kinh thành Huế

Nhiều du khách đến Huế không biết rằng nơi đây có một điện thờ voi, suy tôn lòng trung thành của một con vật dũng cảm trong các trận chiến.

Điện Voi Ré được xây dựng trên một diện tích chừng 2.000 m2 tại đồi Thọ Cương, thôn Trường Đá, phường Thủy Biều, TP Huế, dưới thời vua Gia Long.

Nhà nghiên cứu Dương Phước Thu cho biết, điện Voi Ré không phải là di tích có kiến trúc nổi trội so với nhiều nơi khác ở Huế, tuy nhiên điện mang ý nghĩa đặc biệt bởi đây là nơi suy tôn lòng trung thành của những con voi chiến triều Nguyễn. Công trình độc đáo này không chỉ mang tính lịch sử mà còn đề cao tinh thần trọng tình, trọng nghĩa, mang đậm tính nhân văn của con người Việt Nam xưa.


Điện được xây dựng theo kiến trúc chữ "môn", bên ngoài có vòng la thành xây bằng gạch. Phía trước cổng tam quan có hệ thống đi lên gồm 17 bậc; bên trên chính giữa ở lối chính có ba chữ Hán bằng sành "Nghiễm Nhược Lâm". 

Thẳng theo lối chính, trước khi du khách du lịch hè 2018 vào đến sân miếu, là bức bình phong Long Mã. Miếu Long Châu nằm ở trung tâm theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, gồm năm gian hai chái, mái lợp ngói liệt, tiền đường kiểu vỏ cua. Bên trong trang trí bằng hệ thống liên ba bằng gỗ với 104 ô hộc chủ yếu là chữ Thọ theo lối triện và hoa lá chim muông. Chính giữa ngôi miếu là một bức hoành phi khắc nổi ba chữ Hán màu vàng "Long Châu Miếu".

Hai bên miếu Long Châu là Đông Phối Điện và Tây Phối Điện, đây là nơi thờ những con voi lập được nhiều chiến công trận mạc vào thời kỳ xây đế nghiệp của triều Nguyễn, cũng là nơi khoản đãi quan khách sau khi tế lễ. Trước hai ngôi nhà này, còn có hai tòa miếu phụ còn được gọi là miếu Tượng.

Trong cuốn Từ điển lịch sử Thừa Thiên – Huế do Tiến sĩ Đỗ Bang chủ biên xuất bản năm 2000, điện Voi Ré trước đây thờ 15 bài vị các vị thần bảo hộ lính nhưng hiện nay, trong miếu chỉ còn lại bài vị của 4 vị thần là: thần Thiên Sư, thần Chúa Động, thần Hồng Nương, thần Tiền Hậu Khai Khẩn. Mỗi bài vị được đặt trong một cái khám giống nhau như một cái ngai cách điệu trông rất uy nghiêm. Nguyên thủy, điện Voi Ré còn có bài vị của các vị thần trong tín ngưỡng dân gian như tần Hà Bá, Thổ Công, Ngũ Hành, Thủy Long, Ngọc Nữ…


Trước đây, hai miếu hai bên Long Châu miếu có 4 bài vị đề tên là Đô Đốc Hùng Tượng Ré, Đô Đốc Hùng Tượng Bích, Đô Đốc Hùng Tượng Nhĩ, Đô Đốc Hùng Tượng Bôn, đây là 4 con voi lập nhiều công trạng dưới triều Nguyễn trong các trận chiến.

Theo nhà nghiên cứu Dương Phước Thu, điện Voi Ré được xây dựng do vua Gia Long và người dân thời đó rất kính phục lòng trung thành của con voi chết vì chủ. Theo truyền thuyết, dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, voi của một dũng tướng Đàng Trong đau buồn trước cái chết của chủ mình giữa trận tiền đã chạy trên một quãng đường dài từ chiến địa về tận thủ phủ Phú Xuân, đến địa điểm điện Voi Ré ngày nay rống lên một tiếng vang trời rồi trút hơi thở cuối cùng. Cảm động trước sự trung thành của con voi chiến, người dân địa phương đã làm lễ an táng, xây mộ và gọi một cách mộc mạc là mộ Voi Ré.


Sau khi lên ngôi, vua Gia Long cho xây dựng Long Châu Miếu kế bên mộ voi, vừa để làm nơi thờ các vị thần bảo vệ voi và thờ bốn con voi dũng cảm nhất trong các cuộc chiến của triều Nguyễn. Sau khi điện Voi Ré xây xong, hàng năm nhà Nguyễn đều tổ chức tế lễ hai lần vào mùa thu và mùa xuân.

Ông Phan Văn Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế cho biết, sau chiến tranh, điện Voi Ré từng được sử dụng làm kho thuốc nổ của hợp tác xã Long Thọ, trường mầm non nên nhiều công trình đã xuống cấp. Vừa qua, Trung tâm đã tiến hành trùng tu xong hệ thống tường thành, dùng các thanh gỗ gia cố trạm Tây Phối Điện, Đông Phối Điện để tránh đổ sập.

Hiện điện Voi Ré có tổ bảo vệ trực hàng ngày để hướng dẫn khách tham quan du lịch Huế 5 ngày. Theo kế hoạch, trong giai đoạn 2016 – 2020, điện Voi Ré sẽ được trùng tu, đặc biệt là Long Châu Miếu.

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2018

Cơm âm phủ - Đại diện của nghệ thuật chế biến ẩm thực Huế

Dù có tên gọi kỳ bí nhưng món ăn với hương vị thơm ngon vừa giản dị lại phảng phất phong cách cung đình khiến nhiều thực khách mê mẩn.

Cơm âm phủ, là một trong những món ăn tiêu biểu cho nghệ thuật chế biến đậm nét văn hóa ẩm thực Huế. Trước đây, món ăn này vẫn được lưu truyền với câu: “Muốn ăn cơm dĩa trữ tình/ Có quán Âm phủ ma rình phía sau”. Tuy có tên gọi kỳ bí nhưng món ăn này có hương vị thơm ngon vừa giản dị lại phảng phất phong cách cung đình khiến nhiều thực khách du lịch Huế 5 ngày mê mẩn.


Tương truyền, món ăn độc đáo này bắt nguồn từ một câu chuyện xa xưa khi Đức vua cải trang làm thường dân đi thăm thú khắp nơi. Khi trời tối, ngài tá túc tại nhà một bà góa già. Do hoàn cảnh cơ hàn, khó khăn nên bà góa chỉ có thể dọn cho vua chén cơm trắng cùng một ít rau các loại xếp xung quanh.

Lúc này, vua đói và mệt nên đã ăn ngon lành hết sạch chén cơm. Khi về cung, ngài cứ lưu luyến mãi hương vị nên sai đầu bếp thêm các nguyên liệu chế biến lại. Về sau, món cơm được đặt tên là “cơm âm phủ”.

Tuy nhiên, bên cạnh câu chuyện này cũng có nhiều giả thuyết khác cho biết, cơm âm phủ thực chất là do một doanh nhân mở ra hồi đầu thế kỷ XIX. Quán dựng ở vùng đất vắng, lại thường mở tới khuya phục vụ khách chủ yếu là người đi xem tuồng, hội, ca, múa…

Trong quán chỉ sử dụng một chiếc đèn dầu cháy leo lắt, lại chỉ bán duy nhất món cơm bình dân trộn lẫn với thịt nạc, rau củ quả, ăn kèm nước chấm đủ ngũ sắc (trắng, xanh, vàng, đỏ, đen) nên khách hàng vui miệng mà gọi tên món cơm quán ấy là cơm âm phủ.

Dù truyền thuyết, nguồn gốc cơm âm phủ có khác nhau, nhưng khi món ăn được đưa ra, bạn sẽ bị thu hút bởi sự độc đáo trong nghệ thuật trình bày cũng như hương vị thơm ngon rất khó trộn lẫn. Với món cơm âm phủ truyền thống, thông thường cơm trắng sẽ được đặt ở giữa, xung quanh lần lượt là các món rau củ, thịt nướng, trứng tráng, giò lụa và tôm được đặt đối xứng đan xen với nhau…

Trong đó, cơm phải được nấu từ gạo ngon, thơm và dẻo, thịt nướng phải là loại thịt nạc vai tươi ngon, đem đi thái bản mỏng rồi ướp với gia vị sau đó nướng trên than củi. Giò lụa được làm bằng thịt heo quết nhuyễn, gói thành từng thanh nhỏ. Thêm vào đó là trứng vịt đổ mỏng, tôm chà bông; rau thơm các loại, dưa leo cắt sợi... Tất cả các thứ này đều được cắt dạng sợi nhỏ.


Khi trình bày có thể trộn sẵn với nhau hoặc để thực khách tự trộn đều. Ngoài ra, khi ăn kèm với cơm âm phủ không thể thiếu một chén nước mắm có pha tỏi, đường, nước cốt chanh. Rưới nước mắm và trộn đều cơm cùng các loại thức ăn trước khi thưởng thức.

Sự tổng hòa về màu sắc và sự hòa quyện các nguyên liệu sẽ mang lại hương vị đặc trưng, khó lẫn cho thực khách tour hè 2018.

Trước kia, cơm âm phủ thường dành cho những người lao động đêm, là món giúp họ chắc bụng, đủ sức cho những giờ mưu sinh nhọc nhằn. Nhưng ngày nay, món ăn này xuất hiện từ những quán ăn bình dân cho đến những nhà hàng sang trọng. Tới Huế, bạn có thể ghé quán cơm âm phủ ở 35 hoặc 51 Nguyễn Thái Học để thưởng thức món ăn vừa giản dị, vừa phảng phất phong cách cung đình này.

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018

Biến tấu độc đáo của tô bún bò Đà Lạt

Bún bò Đà Lạt cũng bắp bò, giò heo, tiết heo… và mắm ruốc không thể thiếu, để nước lèo món bún ngon lạ này không trong mà mang màu sắc hấp dẫn rất riêng của mình.

Bún bò có xuất xứ từ Huế - hẳn nhiên rồi. Nhưng, những người con xứ Huế di cư vào Đà Lạt, họ mang theo đặc sản quê mình, rồi biến tấu thành một đặc sản khác cho quê hương mới của họ.

Bún bò Đà Lạt không còn gắn chữ Huế phía sau nữa, vì, nó đã trở thành một đặc sản của ẩm thực xứ sở sương mù, mà không một du khách tour Nha Trang Đà Lạt 5 ngày 4 đêm nào khi đặt chân đến thành phố hoa lại không muốn thưởng thức.


Xưa, trong con hẻm Ấp Ánh Sáng gồ ghề - nơi tập trung đông nhất người dân xứ Huế - những hàng bún bò thường để bảng “bún bò Huế” cùng những cái tên rất gần gũi, dễ thương, như “Dì Sáu”, “O Luông”… Qua thời gian “tiếp cận” với khách địa phương, khi đã được người Đà Lạt góp ý đủ và đón nhận như một món đặc sản quê mình, món bún bò giờ đã là bún bò của Đà Lạt, với cái nét riêng của những người con vùng núi tự tin khoe với khách du lịch ghé đến quanh năm.

Cái khác đầu tiên giữa bún bò Huế với bún bò Đà Lạt, là nước lèo chỉ cay vừa, hoặc có những quán không cay, để vừa miệng mọi du khách, khi cần, có sẵn ớt sa tế trong những hũ đựng gia vị luôn nằm trên bàn.

Bún bò Đà Lạt cũng bắp bò, giò heo, tiết heo… và mắm ruốc không thể thiếu, để nước lèo món bún ngon lạ này không trong mà mang màu sắc hấp dẫn rất riêng của mình. Dân Đà Lạt ăn cay không giỏi, khách du lịch càng không. Nên, có lẽ cái khác đầu tiên giữa bún bò Huế với bún bò Đà Lạt, là nước lèo chỉ cay vừa, hoặc có những quán không cay, để vừa miệng mọi du khách tour hè 2018, khi cần, có sẵn ớt sa tế trong những hũ đựng gia vị luôn nằm trên bàn.

Và, đã nhắc đến Đà Lạt, thì không thể bỏ qua rau xanh. Không phải chỉ Huế, ở bất kỳ đâu trên đất nước Việt Nam, rau ăn cùng các món bún thường là rau muống bào, bắp chuối bào và ít rau thơm. Nhưng, Đà Lạt có xà-lách giòn, có hành tây tươi ngọt, có bắp sú bào nhuyễn tạo độ giòn… khiến món rau đi cùng bún bò trở thành “độc nhất vô nhị”.


Mà, giữa tiết trời sáng lạnh, mờ sương, thưởng một tô bún bò nóng hổi, cay cay cùng rau sống giòn ngọt, thật sự với những “đầu bếp không chuyên”, hay “đầu bếp chưa chuyên” cũng có thể tạo ra được món bún rất Đà Lạt này! Hít hà với bún bò Đà Lạt, đón ngày mới lành lạnh. Tại sao không!

Và, đã nhắc đến Đà Lạt, thì không thể bỏ qua rau xanh. Rau ăn cùng các món bún thường là rau muống bào, bắp chuối bào và ít rau thơm. Nhưng, Đà Lạt có xà-lách giòn, có hành tây tươi ngọt, có bắp sú bào nhuyễn tạo độ giòn… khiến món rau đi cùng bún bò trở thành “độc nhất vô nhị”.

Bún bò Đà Lạt cũng bắp bò, giò heo, tiết heo… và mắm ruốc không thể thiếu, để nước lèo món bún ngon lạ này không trong mà mang màu sắc hấp dẫn rất riêng của mình. 

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

Nét đặc biệt trong kiến trúc lăng Khải Định

Cho đến ngày nay, tại tỉnh Thừa Thiên Huế nhiều công trình lăng tẩm của các vua triều Nguyễn được UNESCO công nhận là những di sản của thế giới. Đóng góp vào kho tàng mỹ thuật chung của nhân loại là các công trình lăng tẩm với nghệ thuật kiến trúc độc đáo mang nhiều phong cách khác nhau thể hiện tính cách của bậc đế vương.

Trong 13 đời vua thì chỉ có 8 vua là có lăng tẩm. Tuy nhiên, trải qua biến thiên của thời gian, hiện nay chỉ còn lại 6 lăng là Lăng Gia Long, Lăng Khải Định, Lăng Minh Mạng, Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh, Lăng Dục Đức. Trong đó lăng của Vua Khải Định hay còn gọi là Ứng Lăng được xây dựng tốn nhiều công sức và tiền của nhất, và thời gian để xây dựng cũng lâu nhất, kéo dài 11 năm trong một khu quần thể chưa đến 1 hecta (chiếm diện tích khiêm tốn so với các đời vua trước).


Đọc thêm: Tour Hà Giang

Lăng Khải Định thuộc xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm cách thành phố Huế 10km và là nơi yên nghỉ của vị hoàng đế thứ 12 của triều Nguyễn - Khải Định (1885-1925).

Bước lên ngai vàng giữa tuổi 31, Khải Ðịnh say sưa với việc xây dựng cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc như điện Kiến Trung, Cung An Ðịnh, cửa Trường An, cửa Hiển Nhơn, cửa Chương Ðức và đặc biệt là Ứng Lăng.

Ứng Lăng được xây dựng trên triền núi Châu Chữ, có núi Chóp Vung và Kim Sơn lần lượt nằm bên tả và hữu, có khe Châu Ê chảy từ trái qua phải gọi là “thủy tụ” và “minh đường”. Lăng có hình khối chữ nhật với 127 bậc tam cấp và Cung Thiên Định là trọng tâm. Vật liệu để xây dựng lăng bao gồm sắt, thép, xi măng, ngói Ardoise… được Vua Khải Định mua từ Pháp và để trang trí nội thất ông cho mua đồ sành sứ, thủy tinh màu… tận Trung Hoa và Nhật Bản để phục vụ công trình.

Kiến trúc của Lăng Khải Định không tuân theo tôn chỉ một trường phái kiến trúc nhất định nào, mà là một sự kết hợp táo bạo nhiều trường phái kiến trúc từ Ấn Độ giáo, Phật giáo, Gothique đến Roman… đã để lại dấu ấn trên những công trình cụ thể, những cổng trụ hình tháp ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Ðộ; trụ biểu dạng stoupa của nhà Phật; hàng rào như những cây Thánh giá khẳng khiu; nhà bia với những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể. Sự kết hợp đó thể hiện rõ nét về những ảnh hưởng mang tính chất thời cuộc đến tư tưởng của Vua Khải Định, khi nền văn hóa Đông - Tây có sự giao thoa trong thời điểm giao thời của lịch sử. Có lẽ chính vì vậy mà lăng Khải Định có cái lạ, có phần ngông nghênh, phô trương và độc đáo so với các công trình kiến trúc truyền thống của Việt Nam..


Công trình kiến trúc chính của lăng Khải Định chính là cung Thiên Định. Cung Thiên Ðịnh ở vị trí cao nhất gồm 5 phần liền nhau: hai bên là Tả, Hữu Trực Phòng dành cho lính hộ lăng; phía trước là Ðiện Khải Thành, nơi có án thờ và chân dung Khải Ðịnh; chính giữa là bửu tán, pho tượng nhà vua bằng đồng đúc với tỷ lệ 1/1 và mộ phần ở phía dưới; trong cùng là khám thờ bài vị của vua khi quá cố. Toàn bộ nội thất của ba gian giữa trong cung Thiên Ðịnh đều được trang trí những phù điêu ghép bằng sành sứ và thủy tinh. Ðó là những bộ tranh tứ quý, bát bửu, ngũ phúc, bộ khay trà, vương miện... Những vật liệu cứng, biệt lập, qua bàn tay vàng khéo léo của các nghệ nhân đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật mềm mại, sống động và vô cùng rực rỡ. Ðặc biệt chiếc bửu tán bên trên pho tượng đồng trong chính tẩm với những đường lượn mềm mại, thanh thoát khiến người xem có cảm giác nó được làm bằng nhung lụa, có thể xao động trước gió mà quên đi rằng nó đích thực là một khối bê tông cốt thép nặng gần một tấn.

Người chịu trách nhiệm chính trong việc kiến tạo những tuyệt tác nghệ thuật trong lăng Khải Ðịnh là nghệ nhân Phan Văn Tánh, tác giả của ba bức bích họa “Cửu long ẩn vân” lớn vào bậc nhất Việt Nam. Ba tấm phù điêu này được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định. Theo đánh giá của những nhà chuyên môn thì lăng Khải Định thực sự là biểu tượng đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình sành sứ và thủy tinh.



Với 11 năm xây dựng cùng sự đầu tư nguyên vật liệu hết sức kỹ lưỡng, Ứng Lăng được xem là một trong những công trình lăng tẩm tốn kém nhất thời đó. Tuy nhiên sự tốn kém và công phu này đã hình thành một công trình kiến trúc khá đặc sắc, mà bất cứ ai đến thăm cũng không khỏi trầm trồ.

Ở một phương diện nào đó, sự đầu tư thái quá của Vua Khải Định vào công trình lăng tẩm của ông khiến người đời chê trách, nhưng nhìn vào giá trị nghệ thuật kiến trúc, lẫn trang trí nội thất còn nằm nguyên vẹn ở từng cái cột, hàng rào, nhà bia, hay những bức khám sành sứ tinh tế, những bức phù điêu kết hợp sành sứ thủy tinh khá sắc sảo… người ta cũng phải thán phục thay, bởi chính cá tính ngạo nghễ của ông đã góp phần làm cho Ứng Lăng trở nên lạ và khá độc đáo trong lịch sử xây dựng lăng tẩm của các Vua triều Nguyễn./.